Điều 10. -
Ngân hàng quốc doanh có quyền quản lý tài chính như sau:
1. Tự chủ tài chính, chủ động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn để bảo đảm sự tăng trưởng các hoạt động, kinh doanh của Ngân hàng;
2. Được sử dụng vốn và các quỹ của Ngân hàng quốc doanh để phục vụ kịp thời các nhu cầu kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn, có hiệu quả đúng với các quy định của Ngân hàng Nhà nước về bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và các quy định của pháp luật có liên quan;
3. Với chức năng hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, được vay vốn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước và tự huy động vốn để hoạt động kinh doanh nhưng không làm thay đổi hình thức sở hữu Nhà nước đối với Ngân hàng quốc doanh; được phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu Ngân hàng quốc doanh theo quy định của pháp luật; được thế chấp giá trị quỹ sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng quốc doanh tại các tổ chức tín dụng để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật;
4. Được thành lập, quản lý và sử dụng quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm, quỹ nghiên cứu khoa học và đào tạo tập trung, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi; tỷ lệ trích, chế độ quản lý và sử dụng các quỹ này theo quy định của pháp luật;
5. Được sử dụng phần lợi nhuận còn lại sau khi đã làm đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, lập các quỹ theo quy định để bổ sung vào quỹ đầu tư phát triển;
6. Được hưởng các chế độ trợ cấp về nguồn vốn, bù đắp về lợi nhuận kinh doanh hoặc theo các chế độ ưu đãi khác của Nhà nước khi thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu của Chính phủ;
7. Được hưởng các chế độ ưu đãi đầu tư hoặc tái đầu tư theo quy định của Nhà nước.