Điều 8. Trách nhiệm của các sở, ban, ngành, địa phương
1. Người đứng đầu các sở, ban, ngành, địa phương chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc giải quyết, trà lời kiến nghị của cử tri đúng các quy định của pháp luật và quy định của Quy chế này; báo cáo tổng hợp đầy đủ về kết quả giải quyết, trả lời kiến nghị đến Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan; báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền.
2. Các sở, ban, ngành, địa phương được giao chủ trì giải quyết, trả lời kiến nghị phải chủ động, thường xuyên phối hợp, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các kiến nghị đã được giao cho cơ quan mình và các cơ quan phối hợp, không để kiến nghị tồn đọng, kéo dài:
a) Đối với các kiến nghị liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của nhiều sở, ban, ngành, địa phương được giao cho một cơ quan quan chủ trì nghiên cứu giải quyết, trả lời. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được kiến nghị, cơ quan được giao chủ trì giải quyết, trả lời phải có văn bản gửi đến các cơ quan có liên quan đề nghị phối hợp giải quyết, trả lời kiến nghị.
b) Các sở, ban, ngành, địa phương được giao phối hợp có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì để giải quyết, trả lời cử tri, trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị phối hợp của cơ quan chủ trì, sở, ban, ngành, địa phương được đề nghị phối hợp phải có văn bản trả lời gửi đền cơ quan chủ trì giải quyết, trả lời cử trì theo đúng quy định của pháp luật và của Quy chế này.
c) Đối với các kiến nghị mà việc giải quyết liên quan đến nhiều sở, ban, ngành, địa phương, vượt quá khả năng, điều kiện hoặc có khó khăn, vướng mắc thì cơ quan được giao chủ trì phải chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan và trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kiến nghị phải có văn bàn gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (thông qua Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh) để xem xét, cho ý kiến chỉ đạo.
3. Đối với các kiến nghị có nội dung trùng lập (cứ trị ở các địa phương khác nhau có nội dung kiến nghị tương tự nhau hoặc kiến nghị ở cùng một địa phương nhưng trùng lập nội dung) thì cơ quan tiếp nhận, giải quyết, trả lời và thông báo kết quả giải quyết bằng một văn bản đồng thời gửi đến tất cả UBND các địa phương có kiến nghị trùng lặp và các cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định.
4. Đối với kiến nghị liên quan đến việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các chính sách, pháp luật cần có nhiều thời gian để nghiên cứu, tổng kết, đánh giá, tuân thủ các quy trình, thủ tục xây dựng văn bản hoặc kiến nghị khi thực hiện giải quyết cần phải có nguồn lực phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, chưa xác định được thời gian giải quyết thì các cơ quan được giao chủ trì phải có văn bản giải trình cụ thể về tỉnh hình khó khăn, điều kiện và nguồn lực đề thực hiện, xác định rõ lộ trình, phương hướng giải quyết, trả lời để cử tri biết.
5. Thường xuyên chủ động rà soát, tổng hợp, đánh giá kết quả giải quyết kiến nghị do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phân công, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan có thẩm quyền.
6. Trường hợp nội dung giải quyết, trả lời kiến nghị của các sở, ban, ngành, địa phương không chính xác, chưa đầy đủ, chưa phù hợp với đặc điểm tỉnh hình của cơ quan, đơn vị hoặc số liệu chưa nhất quân thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin từ Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành, địa phương phải rà soát, điều chỉnh lại và có văn bản đình chỉnh, bổ sung làm rõ các thông tin theo đề nghị của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh.
7. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của các địa phương liên quan đến các kiến nghị thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương nhưng vượt quá khả năng hoặc có khó khăn, vướng mắc liên quan đến thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành liên quan phải có văn bản trà lời địa phương hoặc phải có văn bản đề xuất, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho ý kiến chỉ đạo.
8. Văn bản trả lời cử tri phải được gửi đến Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh nơi có cử tri kiến nghị; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ban hành văn bản trà lới cử tri, các sở, ban, ngành, địa phương chủ trì giải quyết có trách nhiệm gửi đăng tải trên Công Thông tin điện tử của tỉnh trừ trường hợp kiến nghị có nội dung, thông tin quy định tại Điều 11 Quy chế này.
9. Chủ động cung cấp thông tin về kết quả giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri thuộc trách nhiệm giải quyết của cơ quan mình cho Trung tâm Truyền thông tỉnh, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ủy ban nhân dân các địa phương có cử tri kiến nghị để kịp thời nắm bắt, thông tin đến cử tri.