Điều 6. Trách nhiệm của các sở, ban, ngành, địa phương
1. Cử đại diện lãnh đạo tham gia các hội nghị tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh (theo yêu cầu của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc theo đề nghị của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh) để kịp thời nắm bắt tình hình, trực tiếp giải quyết, trả lời các kiến nghị thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, đơn vị hoặc tiếp nhận để chỉ đạo các bộ phận liên quan phối hợp, giải quyết, trả lời cử tri.
2. Phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh phân loại, làm rõ nội dung kiến nghị của cử trì có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các sở, ban, ngành, địa phương. Tiếp nhận kiến nghị của cử trí do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phân công theo từng lĩnh vực, địa bàn quản lý nhà nước của sở, ban, ngành, địa phương để xử lý.
3. Đối với các kiến nghị của cử tri do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phân công nhiệm vụ trả lời có nội dung chưa rõ ràng: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản phân công trả lời kiến nghị, các sở, ban, ngành, địa phương có trách nhiệm phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan, đơn vị liên quan đề làm rõ các kiến nghị, đồng thời, tách nội dung kiến nghị theo từng ngành, lĩnh vực và giải quyết, trả lời theo thẩm quyền.
4. Đối với kiến nghị đã được sở, ban, ngành, địa phương tiếp nhận, giải quyết, trả lời theo đúng quy định của pháp luật ở các ký hợp trước nhưng cử tri vẫn tiếp tục kiến nghị: Các sở, ban, ngành, địa phương có trách nhiệm rà soát, tổng hợp và trong thời hạn 15 ngày làm việc kẻ từ ngày nhận được kiến nghị phải tham mưu UBND tỉnh có văn bản thông báo đến cử trì (kèm theo văn bản đã thông bảo kết quả giải quyết, trả lời trước đói và địa phương nơi có cử tri kiên nghị, đồng thời báo cáo Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh nơi có cử tri kiến nghị và các cơ quan liên quan biết, theo đôi trả lời cử tri,
5. Đối với kiến nghị của cử tri không thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết của các sở, ban, ngành, địa phương: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản phân công trả lời kiến nghị, các sở, ban, ngành, địa phương báo cáo lại Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để xem xét, điều chỉnh, chuyển đến sở, ban, ngành, địa phương khác có thẩm quyền giải quyết theo quy định.
6. Đối với kiến nghị của cử tri đã được các sở, ban, ngành, địa phương tiếp nhận, giải quyết và có văn bản trả lời nhưng nội dung trả lời không chính xác, chưa đầy đủ, chưa phù hợp với quy định của pháp luật: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị kiểm tra lại thông tin, các sở, ban, ngành, địa phương phải có trách nhiệm kiểm tra, rà soát, điều chỉnh lại thông tin và có văn bản đính chính, bổ sung gửi Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan, đơn vị liên quan để tổng hợp, trà lới cử tri.
7. Đối với những vấn đề cử tri kiến nghị kéo dài chưa được giải quyết, có liên quan trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức đơn vị hoặc trong quá trình xem xét giải quyết còn nhiều ý kiến khác nhau: Sở, ban, ngành, địa phương được giao chủ trì tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Tổ công tác liên ngành có sự tham gia của đại diện các ban Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh để tiến hành rà soát, phân loại những nội dung kiến nghị không thuộc thẩm quyền giải quyết, nội dung không thể giải quyết thì đề xuất đưa ra khỏi danh mục kiến nghị.