Điều 30. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm:
Đối với các dự án đầu tư vì mục đích phát triển kinh tế thì chủ đầu tư phải ưu tiên tiếp nhận lao động tại chỗ, phải thông báo với chính quyền địa phương nhu cầu cần tuyển về số lượng, chất lượng lao động ngay từ khi dự án có chủ trương kê biên của UBND cấp có thẩm quyền và phối hợp với chính quyền địa phương để tổ chức dạy nghề cho con em của các hộ bị giải tỏa, đối với số lao động lớn tuổi thì sắp xếp công việc thích hợp để thu nhận vào làm việc tại đơn vị nhằm tạo điều kiện cho các hộ có thu nhập ổn định.
Để góp phần ổn định cuộc sống cho các hộ dân có đất bị thu hồi UBND tỉnh sẽ ban hành quyết định thành lập Quỹ hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Nguồn kinh phí hoạt động của Quỹ hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi được hình thành từ sự đóng góp của các chủ đầu tư thực hiện dự án vì mục đích phát triển kinh tế, mức đóng góp tối đa không quá 5% chi phí bồi thường hỗ trợ của dự án. UBND tỉnh sẽ quyết định cụ thể mức đóng góp, qui chế quản lý và sử dụng Quỹ.
Ngoài các trách nhiệm nêu trên chủ đầu tư dự án còn có trách nhiệm bố trí nguồn kinh phí để chi hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề cho người bị ảnh hưởng của dự án, cụ thể như sau:
1. Các hộ bị mất đất sản xuất nông nghiệp nếu đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề thì được hỗ trợ chi phí đào tạo chuyển nghề theo các mức như sau:
a) 5.000.000đ/lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp trong độ tuổi lao động/năm nếu học nghề dài hạn (trung cấp nghề) tại các đơn vị dạy nghề, thời gian hỗ trợ tối đa 02 năm. Số tiền này được chuyển vào tài khoản của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý để chi trả cho người lao động sau khi có xác nhận của đơn vị dạy nghề (kèm theo chứng từ có liên quan) và chịu trách nhiệm thanh quyết toán với Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện;
b) 3.000.000đ/lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp trong độ tuổi lao động nếu tự tìm nơi học nghề phù hợp, số tiền này được hỗ trợ trực tiếp cho người lao động tại thời điểm chi trả tiền bồi thường;
c) Số lượng lao động cụ thể được hỗ trợ như sau:
- Trường hợp một hộ bị thu hồi từ 30% đến 50% diện tích đất nông nghiệp được giao theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được hỗ trợ 01 suất lao động;
- Trường hợp một hộ bị thu hồi từ trên 50% đến 70% diện tích đất nông nghiệp được giao theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được hỗ trợ 02 suất lao động;
- Trường hợp một hộ bị thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp được giao theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được hỗ trợ cho tổng số lao động sản xuất nông nghiệp.
Các trường hợp nêu trên khi giải quyết cụ thể không được vượt quá số lao động sản xuất nông nghiệp trong độ tuổi lao động hiện có thực tế của hộ phải giải tỏa đất sản xuất nông nghiệp.
d) Đối với số lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp ngoài độ tuổi lao động được hỗ trợ 1.500.000đ/lao động để tạo điều kiện cho các đối tượng này tự chuyển đổi nghề.
2. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp mà không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng thì được giao đất có thu tiền sử dụng đất tại vị trí có thể làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp hoặc được giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư hoặc tại vị trí trong khu dân cư để có điều kiện chuyển đổi nghề.
Mức đất được giao do Hội đồng bồi thường cấp huyện căn cứ vào khả năng quỹ đất và mức đất bị thu hồi của từng hộ gia đình, cá nhân đề xuất trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét quyết định theo nguyên tắc mức đất ở tối thiểu được giao là 80 m2 và tối đa không quá hạn mức diện tích giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh tại Quyết định số 33/2006/QĐ-UBND ngày 25/7/2006.
Giá đất được giao do Hội đồng bồi thường cấp huyện đề xuất trình Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét quyết định theo nguyên tắc bằng giá bồi thường đất nông nghiệp tương ứng cộng với chi phí đầu tư hạ tầng trên đất nhưng không cao hơn giá bồi thường đất ở tại thời điểm thu hồi đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh quy định và công bố. Chi phí đầu tư hạ tầng trên đất được xác định theo suất đầu tư do UBND tỉnh quyết định ban hành hàng năm.