Điều 14. Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất ở
1. Trường hợp diện tích đất ở sau khi bị thu hồi còn lại nhỏ hơn 15m2 có chiều rộng mặt tiền hoặc chiều sâu so với chỉ giới xây dựng nhỏ hơn 3m nên không thể làm nhà ở được; hoặc phần đất còn lại có hình thể đặc biệt không thể xây dựng lại nhà ở; hoặc phần đất còn lại không phù hợp quy hoạch để xây dựng nhà ở.
Nếu người bị thu hồi đất có yêu cầu Nhà nước thu hồi và bồi thường toàn bộ diện tích đất thì Nhà nước sẽ thu hồi và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định. Phần diện tích đất này được giao cho địa phương quản lý theo quy chế về quản lý đất công hiện hành đối với trường hợp thu hồi đất vì mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Riêng trường hợp thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế thì giao cho chủ dự án quản lý sử dụng theo quy định hiện hành.
2. Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà thuộc đối tượng không được bồi thường đất, nếu không còn nơi ở nào khác thì được Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét giải quyết cho mua, thuê nhà ở; người được thuê nhà hoặc mua nhà phải trả tiền mua nhà, thuê nhà, nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
3. Đối với đất ở nằm trong lộ giới, hành lang bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và đã công bố thì được bồi thường như sau:
a) Trường hợp có đầy đủ giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính (tiền sử dụng đất, thuế chuyển quyền, lệ phí trước bạ, thuế nhà đất,...) thì được bồi thường theo quy định.
b) Đối với đất ở không có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất nhưng đã sử dụng ổn định, không tranh chấp, có nguồn gốc không lấn chiếm thì được hỗ trợ theo khoản 4 điều này.
4. Đối với đất ở không đủ điều kiện để được bồi thường thì được xem xét hỗ trợ cụ thể như sau:
a) Được xét hỗ trợ từng trường hợp cụ thể với mức hỗ trợ bằng tiền không quá 30% đơn giá đất ở để tính bồi thường (đơn giá quy định tại khoản 1, Điều 9 của Quy định này) tùy theo thời điểm sử dụng trước hay từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở về sau. Cụ thể như sau:
- Sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993: hỗ trợ 30% giá bồi thường đất ở theo Quy định này.
- Sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004: hỗ trợ 15% giá bồi thường đất ở theo Quy định này.
- Sử dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau: không hỗ trợ.
b) Các trường hợp đất ở có nguồn gốc lấn chiếm từ ngày công bố quy hoạch, lộ giới, hành lang bảo vệ các công trình hạ tầng kỹ thuật trở về sau thì không được hỗ trợ về đất ở.
c) Diện tích đất ở để tính hỗ trợ là diện tích thực tế đang sử dụng bị thu hồi nhưng không quá hạn mức đất ở của UBND tỉnh quy định tại Quyết định số 33/2006/QĐ-UBND ngày 25/7/2006 về việc ban hành Quy định về hạn mức giao, công nhận quyền sử dụng một số loại đất trên địa bàn tỉnh Long An. Phần diện tích còn lại (nếu có) không tính hỗ trợ.
5. Tách hồ sơ bồi thường:
a) Các trường hợp cha - mẹ chia tách đất cho con khi các con đã trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên tại thời điểm cho nhà, đất) sẽ được tách hồ sơ để tính bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về nhà, đất nếu hội đủ các điều kiện sau đây:
- Người chia tách đất phải là người đủ điều kiện để được bồi thường về đất theo điều 8 quy định này và nộp thuế nhà đất đầy đủ.
- Người được chia tách đất phải là con của chủ hộ có tên trong sổ hộ khẩu thường trú của cha, mẹ hoặc hộ ghép.
- Việc chia tách đã được thực hiện trước thời điểm công bố chủ trương, kê biên, thu hồi đất được UBND cấp xã xác nhận.
- Có nhà cất trên đất được cho nay phải di dời.
- Cam kết không bị tranh chấp của những người có quyền lợi liên quan trong hộ.
b) Diện tích đất ở để tính bồi thường, hỗ trợ thiệt hại trong trường hợp này là phần diện tích xây dựng nhà và công trình phục vụ đời sống theo thực tế nhưng tối đa không quá hạn mức đất ở của UBND tỉnh quy định tại Quyết định số 33/2006/QĐ-UBND ngày 25/7/2006 về việc ban hành Quy định về hạn mức giao, công nhận quyền sử dụng một số loại đất trên địa bàn tỉnh Long An.