Điều 36. Xử lý vi phạm
1. Mọi tranh chấp về hoạt động thoát nước, công trình thoát nước, đơn vị thoát nước và hộ thoát nước sẽ được xử lý hoặc giải quyết theo Quy định này. Trường hợp quy định không có điều khoản áp dụng thì xử lý hoặc giải quyết theo Nghị định 88/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2007 của Chính Phủ.
2. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phát hiện, phòng ngừa, kiến nghị xử lý kịp thời những vi phạm quy định quản lý thoát nước.
3. Tổ chức, cá nhân vi phạm các hành vi bị cấm trong hoạt động thoát nước được quy định tại Điều 3 của Quy chế này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà áp dụng Khoản 5 Điều này để xử lý.
4. Trường hợp các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thoát nước gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân thì đối tượng vi phạm phải bồi thường thiệt hại.
5. Thẩm quyền xử phạt vi phạm, hình thức và mức độ xử lý được thực hiện theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ban hành năm 2002, được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2008; Nghị định 23/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, kinh doanh bất động sản, khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý phát triển nhà và công sở; Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
6. Nếu các tổ chức, hộ thoát nước cố tình cung cấp thông tin sai lệch về chất lượng và khối lượng nước thải sẽ bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.