Điều 22. Xác định khối lượng tính phí thoát nước
1. Trường hợp hộ xả nước thải sinh hoạt sử dụng nước cấp qua đường ống, khối lượng nước thải tính phí bằng 100% khối lượng nước tiêu thụ ghi trên hóa đơn tiền nước.
2. Trường hợp hộ xả nước thải sinh hoạt không sử dụng nước cấp qua đường ống, khối lượng nước thải tính phí được xác định dựa trên mức khoán 4 m3/người/tháng. Con số này sẽ được xem xét định kỳ tùy theo sự tăng lên của mức sống.
3. Trường hợp hộ xả nước thải không phải là sinh hoạt và sử dụng nước cấp qua đường ống, khối lượng nước tính phí bằng 80% khối lượng nước tiêu thụ ghi trên hóa đơn tiền nước cấp. Hộ xả nước thải hoặc đơn vị quản lý hệ thống thoát nước có thể lắp đặt đồng hồ để đo khối lượng nước thải xả ra.
4. Trường hợp hộ xả nước thải không phải là sinh hoạt và sử dụng nước từ các nguồn khác, khối lượng nước tính phí bằng 80% lượng nước thông qua đồng hồ. Hộ xả nước chịu trách nhiệm mua, lắp đặt và vận hành đồng hồ đo nước thô và các thiết bị phụ trợ khác. Nếu hộ xả nước không lắp đặt đồng hồ đơn vị quản lý vận hành có quyền ghi phí theo ước tính tốt nhất của mình.
5. Các nguyên tắc chính của hệ thống phí thoát nước
a) Chính quyền địa phương phải xây dựng và thực hiện chính sách vì người nghèo để bao cấp cho các hộ được xác nhận nghèo trong vùng phục vụ.
b) Tính phí phải phân biệt giữa các nhóm khách hàng (hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ quan hành chính sự nghiệp v.v…)
c) Đơn vị quản lý vận hành có thể đề xuất việc thu phí lũy tiến hoặc không lũy tiến cho dịch vụ thoát nước. Phí thoát nước lũy tiến có nghĩa là đơn giá cao hơn sẽ được áp dụng cho hộ thoát nước xả khối lượng nước thải vượt quá khối lượng hoặc nồng độ chất gây ô nhiễm nhất định.