Điều 7. Bồi thường, hỗ trợ thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ
Bồi thường, hỗ trợ thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất quy định tại khoản 2, Điều 10 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP; khoản 12, khoản 13, Điều 1 Nghị định số 51/2020/NĐ-CP của Chính phủ được thực hiện theo quy định như sau:
1. Bồi thường, hỗ trợ thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ thuộc diện Nhà nước không thu hồi đất:
a) Đất ở và các loại đất khác trong cùng thửa với đất ở của một chủ sử dụng nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ đủ điều kiện bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước không thu hồi đất thì được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất. Mức bồi thường, hỗ trợ bằng 80% giá loại đất tương ứng.
b) Trường hợp đất ở và các loại đất khác không đủ điều kiện bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được xem xét hỗ trợ. Mức hỗ trợ tối đa tối đa bằng 40% giá loại đất tương ứng.
c) Đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không khí Nhà nước không thu hồi đất thì được hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất. Mức hỗ trợ bằng 80% giá loại đất tương ứng; hỗ trợ chi phí cải tạo đất chuyển đổi từ đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng sản xuất qua đất trồng cây hàng năm nằm trong phạm vi hành lang tuyến là 35,6 triệu đồng/ha.
d) Đối với đường dây dẫn điện trên không vượt tuyến theo thiết kế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt: Trường hợp cây không được tồn tại thì được hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này; trường hợp cây được tồn tại thì không được hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất.
2. Bồi thường, hỗ trợ đối với nhà ở, công trình trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không:
a) Nhà ở có một phần hoặc toàn bộ diện tích nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ, xây dựng trên đất đủ điều kiện bồi thường không phải di dời thì được bồi thường một phần do hạn chế khả năng sử dụng và ảnh hưởng trong sinh hoạt, mức bồi thường bằng 100% đơn giá của UBND tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi; đối với các công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân, mức bồi thường bằng 80% đơn giá của UBND tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi.
b) Trường hợp nhà ở, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này thì được xem xét hỗ trợ; mức hỗ trợ tối đa bằng 40% đơn giá của UBND tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi.