Điều 18. Hỗ trợ khác đối với người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khác đối với người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại điểm d khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013; Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ được thực hiện theo quy định sau đây:
1. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở.
a) Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp đang sử dụng còn được hỗ trợ bằng 45% giá đất ở của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ tối đa không quá 05 lần hạn mức giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh tại khu vực đó.
Nhà ở nêu trên là nhà ở mà tại thời điểm tạo lập không vi phạm quy hoạch sử dụng đất đã được công bố hoặc không vi phạm quy định tại Điều 35 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ thì được hỗ trợ theo Quy định này.
b) Trường hợp mức giá bồi thường và hỗ trợ đối với đất nông nghiệp; đất vườn, ao quy định tại điểm a khoản này vượt quá giá bồi thường đất ở tương ứng thì chỉ được bồi thường và hỗ trợ bằng với giá đất ở tương ứng.
2. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai năm 2013; hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận khoản đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại hoặc được hỗ trợ theo quy định sau:
a) Hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoản đất là cán bộ công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động; hộ gia đình, cá nhân nhận khoản đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp; hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 nếu có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng 80% đơn giá bồi thường loại đất tương ứng.
b) Hộ gia đình, cá nhân nhận khoản không thuộc đối tượng nêu tại điểm a khoản này thì chỉ bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
3. Hỗ trợ di chuyển
a) Hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở được hỗ trợ chi phí di chuyển như sau:
- Đối với việc di chuyển nhà ở trong khuôn viên đất còn lại của hộ gia đình thì mức hỗ trợ di chuyển là 3.000.000 đồng/hộ;
- Di chuyển nhà ở đến nơi ở mới trong phạm vi thuộc huyện, thị xã thì mức hỗ trợ là 4.000.000 đồng/hộ;
- Di chuyển nhà ở đến nơi ở mới trong phạm vi thuộc thành phố; hoặc khác huyện, thị xã thì mức hỗ trợ là 5.000.000 đồng/hộ;
- Di chuyển nhà ở đến nơi ở mới khác tỉnh nơi đang sinh sống hiện tại thì mức hỗ trợ là 6.000.000 đồng/hộ;
- Các khoản hỗ trợ khác khi phải di chuyển nhà ở:
- Hỗ trợ bắt lại điện chiếu sáng trong nhà: 2.000.000 đồng;
- Hỗ trợ bắt lại đường ống cấp nước: 2.000.000 đồng (nếu có);
- Hỗ trợ làm lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Theo đơn giá UBND tỉnh ban hành;
- Hỗ trợ làm lại thiết kế bản vẽ nhà khi di chuyển đến chỗ ở mới, như sau:
Giá trị hỗ trợ = 2,92% x Giá trị xây dựng nhà x 0,88.
Trong đó:
+ Hệ số tỷ lệ 2,92% lấy theo giá trị tại văn bản Công bố định mức chi phí tư vấn đầu tư xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành;
+ Hệ số 0,88 là tỷ lệ của phần thiết kế trong tổng chi phí tư vấn sau khi đã bỏ phần lập dự toán chiếm 12% giá trị;
+ Giá trị xây dựng nhà : Là giá trị nhà được kiểm kê, áp giá bồi thường theo quy định.
b) Những trường hợp phải di chuyển nhà ở được hỗ trợ tiền thuê nhà: 1.200.000 đồng/tháng đối với hộ gia đình có từ 05 nhân khẩu trở xuống; đối với hộ gia đình lớn hơn 05 nhân khẩu thì cứ tăng thêm 01 nhân khẩu thì hỗ trợ thêm 200.000 đồng/tháng trong thời gian tối đa 6 tháng. Trường hợp những hộ di chuyển làm lán trại tạm để ở thì hỗ trợ 01 lần với mức hỗ trợ tối đa là 8.000.000 đồng.
Trường hợp do bố trí đất tái định cư chậm mà đối tượng bị giải toả đã bàn giao mặt bằng đúng thời hạn thì Tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng lập hồ sơ đề xuất tăng thời gian thuê nhà cho phù hợp hoặc bố trí vào nhà tạm (nếu có).
4. Hỗ trợ móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà bị ảnh hưởng (bao gồm đất đắp trong móng nhà)
Nhà, ngoài việc được bồi thường theo đơn giá quy định còn được hỗ trợ thêm phần móng nhà ở có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà bị ảnh hưởng; nếu kinh phí xây dựng phần móng chiếm khoảng 8,0÷12,0% so với kinh phí xây dựng toàn công trình thì mức hỗ trợ được xác định như sau:
- Móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà từ 0,5m đến 1,0m khoảng: 30 ÷ 35% so với móng bị ảnh hưởng;
- Móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà từ lớn hơn 1,0m đến 2,0m khoảng: 75 ÷ 85% so với móng bị ảnh hưởng;
- Móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà từ lớn hơn 2,0m đến 3,0m khoảng: 140 ÷ 150% so với móng bị ảnh hưởng;
- Móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà từ lớn hơn 3,0m trở lên khoảng: 170% so với móng bị ảnh hưởng.
5. Trường hợp đối tượng bị ảnh hưởng phải di chuyển nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất (kể cả di chuyển trong khuôn viên và di chuyển đi nơi khác), ngoài các hỗ trợ theo bản Quy định này, được hỗ trợ thêm như sau:
a) Hỗ trợ ổn định đời sống: Được tính bằng tiền tương đương 30Kg gạo/nhân khẩu/tháng, thời gian hỗ trợ là 6 tháng. Giá gạo được tính theo mức giá thị trường tại thời điểm bồi thường;
b) Trường hợp hộ gia đình vừa trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi có đất nông nghiệp bị thu hồi quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 12 Quy định này vừa có nhà bị giải toả thì chỉ được hưởng một mức hỗ trợ cao nhất.
6. Hỗ trợ đất đắp san lấp mặt bằng làm đường vào nhà ở, quanh nền nhà, khu vực sản xuất, kinh doanh (đã đắp đất trước thời điểm thông báo thu hồi đất), được tính hỗ trợ theo khối lượng thực tế bị ảnh hưởng (trừ đất đắp trong móng nhà).
7. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường bị thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng mà việc thu hồi đất ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người thu hồi đất thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 3 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 6 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 12 tháng.
8. Ngoài các khoản hỗ trợ đã được quy định, trong những trường hợp cần thiết, Chủ tịch UBND tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để đảm bảo có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất và công bằng đối với người có đất thu hồi. Trường hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.