Điều 4. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
1. Việc xác định diện tích đất ở để bồi thường thực hiện theo Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, khoản 1 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP của Chính phủ.
a) Trường hợp chỉ thu hồi một phần diện tích của thửa đất thì diện tích đất ở tính bồi thường (trong phần diện tích thu hồi) được xác định như sau:
Về nguyên tắc thu hồi loại đất gì thì bồi thường theo giá đất của loại đất đó. Nếu trên giấy tờ liên quan về đất không ghi rõ ranh giới từng loại đất đang sử dụng thì việc xác định loại đất ở để tính bồi thường như sau:
A = \frac{B}{C} \times D, trong đó:
A: Là diện tích đất ở bồi thường
B: Là diện tích đất bị thu hồi
C: Là tổng diện tích đất thực tế đang sử dụng
D: Là diện tích đất ở theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có) hoặc giấy tờ theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 100 của Luật Đất đai; diện tích đất ở theo quy định về hạn mức giao đất, công nhận quyền sử dụng đất của UBND tỉnh tại thời điểm thu hồi đất;
Diện tích đất còn lại được bồi thường, hỗ trợ theo loại đất thực tế đang sử dụng;
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có đơn đề nghị được bồi thường theo nguyện vọng (tăng hoặc giảm tỷ lệ đất ở trên tổng diện tích bị thu hồi) thì diện tích đất ở được bồi thường không vượt quá diện tích đất ở ghi trên giấy tờ liên quan về đất trừ diện tích công trình nhà ở hiện có.
b) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm xác định diện tích đất ở theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và công khai trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
c) Trường hợp trên giấy tờ liên quan về đất không ghi rõ ranh giới từng loại đất đang sử dụng mà phạm vi thu hồi đất không ảnh hưởng đến nhà ở, người dân có đơn đề nghị không bồi thường đất ở, chỉ bồi thường đất nông nghiệp (đất vườn) và được UBND cấp xã xác nhận thì bồi thường theo loại đất nông nghiệp (đất vườn).
2. Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi, nếu đủ điều kiện tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một thửa đất ở bị thu hồi thì căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, UBND cấp tỉnh quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.
3. Đối với trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 6 và khoản 5 Điều 7 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ thì giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất bằng giá đất quy định tại bảng giá đất 5 năm của UBND tỉnh nhân với hệ số điều chỉnh.