Điều 8. Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá
1. Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá được xác định trước khi ký kết hợp đồng bán đấu giá tài sản hoặc trước khi chuyển giao tài sản để bán đấu giá.
Người có tài sản bán đấu giá có trách nhiệm tổ chức xác định giá khởi điểm theo đúng quy định của pháp luật về xác định giá khởi điểm.
2. Thẩm quyền quyết định giá khởi điểm của tài sản để bán đấu giá được quy định như sau:
a) Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định giá khởi điểm đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất của các dự án sử dụng quỹ đất tạo vốn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; đấu giá đất ở đô thị, đất ở ven đường quốc lộ, tỉnh lộ sau khi có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Sở Tài chính;
b) Ủy ban nhân dân tỉnh phân cấp cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố quyết định giá khởi điểm để đấu giá cho thuê đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích xã, phường, thị trấn và đấu giá đất ở chia lô ở nông thôn.
c) Việc xác định giá khởi điểm đối với các loại tài sản khác được thực hiện theo quy định tại Điều 23 nghị định số 17/2010/NĐ-CP.