Điều 12. Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
1. Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện theo quy định tại Điều 72 Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 39, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2013; Điều 39 Nghị định số 91/2017/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để tặng cho công nhân, nông dân, người lao động có 2 năm liên tục lập được nhiều thành tích trong lao động sản xuất có phạm vi ảnh hưởng trong cấp xã, cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp.
3. Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để tặng cho gia đình gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có nhiều đóng góp về công sức, đất đai và tài sản cho địa phương, xã hội trong thời gian không quá 2 năm có giá trị từ 200 triệu đồng trở lên. Nếu mức đóng góp nêu trên có giá trị lớn thì tùy từng trường hợp cụ thể để xét đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.
4. Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để tặng cho tập thể, cá nhân lập thành tích xuất sắc được bình xét trong các phong trào thi đua theo đợt (chuyên đề) do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phát động hoặc do cơ quan cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, doanh nghiệp phát động theo Khoản 2 Điều 4 Quy định này.
Nông dân có thành tích tiêu biểu xuất sắc nhất trong phong trào thi đua lao động, sản xuất hàng năm do Ủy ban nhân dân cấp xã bình chọn.
5. Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để tặng cho tập thể, cá nhân lập thành tích xuất sắc đột xuất có phạm vi ảnh hưởng cấp tỉnh ở một trong các lĩnh vực sau:
a) Cứu người, cứu tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, gương người tốt việc tốt; gương tiêu biểu xuất sắc trong phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, vi phạm trật tự an toàn xã hội,...
b) Tập thể, cá nhân đạt các giải cao: Nhất, nhì, ba (vàng, bạc, đồng) trong các kỳ thi, hội thi cấp tỉnh trở lên. Riêng thi học sinh giỏi: Cấp quốc gia và khu vực đạt giải nhất, nhì, ba; cấp tỉnh đạt giải nhất; đỗ thủ khoa trong các kỳ thi vào đại học.
c) Đối với tập thể có nhiều đóng góp trong công tác xã hội trong thời gian không quá 2 năm có giá trị từ 200 triệu đồng trở lên hoặc vận động đóng góp giá trị từ 400 triệu đồng trở lên. Đối với cá nhân có nhiều đóng góp trong công tác xã hội trong thời gian không quá 2 năm có giá trị từ 75 triệu đồng trở lên hoặc vận động đóng góp giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; trường hợp đóng góp ngày công lao động thì quy đổi theo giá thị trường tại địa bàn và thời điểm đóng góp ngày công lao động. Đối với tập thể, cá nhân có yếu tố nước ngoài thực hiện theo Khoản 6 Điều này.
6. Khen thưởng có yếu tố nước ngoài
Việc xem xét tặng thưởng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho tập thể, cá nhân có yếu tố nước ngoài thực hiện theo Quyết định số 76-QĐ/TU ngày 31/12/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại.