Điều 33. Công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; chi trả tiền và bàn giao mặt bằng
1. Trong thời hạn không quá 03 ngày kể từ khi có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã tổ chức niêm yết công khai (cho đến khi hoàn thành việc giải phóng mặt bằng dự án) tại trụ sở UBND xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi toàn bộ các phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt, văn bản của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thông báo cụ thể về: Thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian nhận đất tái định cư; thời hạn bàn giao mặt bằng, đồng thời gửi quyết định phê duyệt kèm theo phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhà, đất bị thu hồi.
Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không nhận quyết định phê duyệt phương án thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm đề nghị UBND cấp xã chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp xã tổ chức vận động, thuyết phục. Trường hợp sau khi đã tổ chức vận động, thuyết phục nhưng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cố tình không nhận quyết định phê duyệt phương án và bàn giao mặt bằng thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với UBND cấp xã lập biên bản báo cáo Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, UBND cấp huyện để có kế hoạch giải quyết khiếu nại hoặc cưỡng chế thu hồi đất (nếu có) theo quy định.
2. Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và giao đất tái định cư
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi; đồng thời giao đất tái định cư cho người bị thu hồi đất.
3. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, nhận đất tái định cư phải ký biên bản cam kết thời gian bàn giao mặt bằng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung đã cam kết; đồng thời bàn giao bản chính Giấy chứng nhận cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường chỉnh lý hoặc thu hồi theo quy định. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân chưa nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chính lý hoặc thu hồi thì tạm dừng việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và giao đất tái định cư.
4. Trường hợp sau khi đã được vận động, thuyết phục mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất vẫn cố tình không nhận tiền chi trả bồi thường, hỗ trợ, không nhận đất được bố trí tái định cư và không chấp hành việc bàn giao đất thì UBND cấp huyện chỉ đạo Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với UBND cấp xã, Tổ công tác và Ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp xã lập biên bản lưu hồ sơ và chuyển số tiền bồi thường, hỗ trợ phải chi trả này vào tài khoản của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được mở tại Ngân hàng, giữ nguyên phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để làm căn cứ giải quyết khiếu nại sau này, đồng thời Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 Luật Đất đai.
Người bị thu hồi đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất và quyết định cưỡng chế thu hồi đất, bàn giao mặt bằng cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
5. Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn kết thúc thông báo thu hồi đất và thời hạn niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, chỉ đạo việc chi trả bồi thường mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.