Điều 20. Công tác kinh tế đối ngoại
1. Về quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA
a) Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm: Là cơ quan đầu mối giúp Ủy ban nhân dân tỉnh vận động, thu hút, điều phối và quản lý nguồn ODA; chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan hướng dẫn quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn ODA;
b) Sở Ngoại vụ có trách nhiệm phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư trong công tác vận động, xúc tiến, đàm phán với các đối tác nước ngoài để thu hút nguồn ODA vào tỉnh; đề nghị cơ quan đại diện ngoại giao, thương mại, kinh tế của Việt Nam ở nước ngoài thẩm tra các đối tác (khi có yêu cầu);
c) Sở Tài chính là cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án ODA; hướng dẫn các đơn vị nhận viện trợ thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về dự toán thu chi, tiếp nhận, quản lý, thanh quyết toán và báo cáo tình hình thực hiện nguồn viện trợ theo các quy định của Nhà nước;
d) Các sở, ban ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, đơn vị, địa phương có trách nhiệm xây dựng danh mục và nội dung các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; thực hiện các chương trình, dự án ODA tại cơ quan, đơn vị, địa phương;
đ) Thẩm định các chương trình, dự án ODA: Thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành và các văn bản hiện hành có liên quan.
e) Quy trình thẩm định dự án ODA: Thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành và các văn bản hiện hành có liên quan.
2. Về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
a) Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh: Có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, cấp phép dự án FDI theo sự phân cấp của Trung ương đối với các dự án FDI trên địa bàn tỉnh;
b) Sở Ngoại vụ có trách nhiệm phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh trong công tác vận động, xúc tiến, đàm phán với các đối tác nước ngoài để thu hút nguồn FDI vào tỉnh; đề nghị cơ quan đại diện ngoại giao, thương mại, kinh tế của Việt Nam ở nước ngoài thẩm tra các đối tác (khi có yêu cầu);
c) Các sở, ban ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, đơn vị, địa phương có trách nhiệm phối hợp với Sở Ngoại vụ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh xúc tiến, kêu gọi, thực hiện dự án FDI theo chức năng, nhiệm vụ được giao;
d) Quy trình cấp phép dự án FDI: Thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành và các văn bản hiện hành có liên quan.
3. Về quản lý viện trợ PCPNN
a) Sở Ngoại vụ có trách nhiệm: Là cơ quan đầu mối giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nguồn viện trợ PCPNN;
b) Sở Ngoại vụ chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, các sở, ban ngành, Hội, đoàn thể, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức xúc tiến, vận động, tranh thủ viện trợ PCPNN theo Chương trình xúc tiến viện trợ PCPNN đã được duyệt;
c) Sở Ngoại vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tổng hợp chương trình, dự án PCPNN sử dụng vốn đối ứng gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí nguồn kinh phí đối ứng theo quy định;
d) Thẩm định các chương trình, dự án PCPNN:
Đối với chương trình, dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, Sở Ngoại vụ tổng hợp, thẩm tra hồ sơ báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
Đối với chương trình, dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Ngoại vụ chủ trì, phối hợp với các sở, ban ngành, đơn vị, địa phương liên quan thẩm định trình Ủy ban nhân dân phê duyệt.
đ) Quy trình, thủ tục phê duyệt các chương trình, dự án PCPNN: Thực hiện theo quy định tại Nghị định số 93/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN và Thông tư số 07/2010/TT-BKH ngày 30 tháng 10 năm 2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 93/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN;
e) Hồ sơ đề nghị phê duyệt chương trình, dự án PCPNN:
Viện trợ theo chương trình, dự án: Công văn đề nghị thẩm định chương trình, dự án của đơn vị tiếp nhận; ý kiến của cơ quan chủ quản; văn kiện chương trình, dự án hoặc biên bản hợp tác đã được bên tài trợ và bên nhận tài trợ thống nhất (bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài); văn bản thông báo cam kết tài trợ cho chương trình, dự án của tổ chức tài trợ; bản sao Giấy đăng ký hoạt động và/hoặc bản sao giấy tờ hợp pháp về tư cách pháp nhân của bên tài trợ.
Viện trợ phi dự án: Công văn đề nghị phê duyệt tiếp nhận viện trợ; nội dung và kế hoạch triển khai thực hiện; văn bản thông báo cam kết tài trợ.
Đối với viện trợ bằng hàng hoá: phải kèm theo danh mục hàng và ước tính giá trị. Nếu hàng hoá đã qua sử dụng nhưng không thuộc diện cấm nhập khẩu thì phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền bên tài trợ là hàng hoá còn chất lượng 80% trở lên;
Đối với viện trợ bằng tiền mặt: phải xác định rõ tổng giá trị viện trợ dưới dạng tiền mặt;
Đối với viện trợ dưới hình thức chuyên gia (kể cả chuyên gia tình nguyện): phải có văn bản của tổ chức nước ngoài về việc cử chuyên gia sang làm việc, trích yếu lý lịch của chuyên gia được cử, bản photocopy hộ chiếu.
Số lượng hồ sơ và nơi nộp hồ sơ: Đối với các khoản viện trợ thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ: 08 bộ. Đối với các khoản viện trợ thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh: 06 bộ.
Nộp hồ sơ và nhận kết quả tại Tổ tiếp nhận và trả kết quả/Bộ phận Văn thư của Sở Ngoại vụ.
Thời gian giải quyết: Không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Ngoại vụ thẩm định hồ sơ và có văn bản trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt (đối với chương trình, dự án thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh) hoặc đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (đối với chương trình, dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng). Trường hợp phải lấy ý kiến của các cơ quan liên quan thì thời hạn trên được kéo dài thêm nhưng không quá 15 ngày làm việc.