Điều 11. Các trường hợp thực hiện rà soát
1. Rà soát thường xuyên:
a) Rà soát khi cơ quan nhà nước cấp trên ban hành văn bản mới làm cho nội dung văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân không còn phù hợp.
b) Rà soát để bảo đảm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương.
2. Rà soát theo chuyên đề, lĩnh vực, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Rà soát khi nhận được thông tin, yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân về văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có nội dung trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp.
4. Rà soát, xác định hiệu lực văn bản để công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực hàng năm hoặc cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.