Điều 14. Thực hiện quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. Công khai quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt.
Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thực hiện:
Niêm yết công khai quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt của khu dân cư nơi có đất thu hồi, thông báo ít nhất 02 lần/ngày trong vòng 03 ngày liên tục trên đài truyền thanh của xã hoặc của khu dân cư nơi có đất thu hồi.
Gửi văn bản thông báo kèm theo trích sao quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đến từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất, tài sản Nhà nước thu hồi, trong văn bản thông báo phải ghi rõ thời gian, địa điểm trả tiền, các loại giấy tờ gốc hợp pháp về quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản phải mang nộp khi nhận tiền, yêu cầu những trường hợp nhận tiền hộ phải có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật; số tiền khấu trừ các nghĩa vụ tài chính về đất đai liên quan đến thửa đất Nhà nước thu hồi. Thông báo được lập 03 bản, Tổ chức phát triển quỹ đất giữ 01 bản, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ 01 bản, 01 bản gửi cho người có đất, tài sản trên đất Nhà nước thu hồi.
Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất, tài sản Nhà nước thu hồi khiếu nại tố cáo liên quan đến trình tự, thủ tục và phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
2. Trả tiền bồi thường, hỗ trợ
a) Tổ công tác cùng với Chủ đầu tư thực hiện việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án đã được phê duyệt. Trường hợp người có đất, tài sản trên đất Nhà nước thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thì thực hiện theo quy định tại điểm b khoản này.
Khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư phải khấu trừ các nghĩa vụ tài chính về đất đai liên quan đến thửa đất Nhà nước thu hồi mà người sử dụng đất phải nộp (nếu có, trên phiếu thu tiền phải ghi rõ số tiền của từng loại nghĩa vụ tài chính mà người có đất, tài sản trên đất nhà nước thu hồi phải nộp). Người có đất, tài sản Nhà nước thu hồi có trách nhiệm nộp bản gốc các giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (nếu có) cho Ủy ban nhân dân cấp xã để chuyển cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường làm thủ tục thu hồi, chỉnh lý hoặc cấp lại Giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất không thu hồi, đồng thời ký biên bản bàn giao mặt bằng cho nhà nước quản lý. Việc thu bản gốc các giấy tờ trên phải lập thành văn bản giao cho người nộp và ghi rõ các loại giấy tờ nộp, văn bản này được lập 04 bản: Tổ chức phát triển quỹ đất giữ 01 bản, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ 01 bản, cơ quan Tài nguyên và Môi trường giữ 01 bản, gửi cho người có đất, tài sản Nhà nước thu hồi 01 bản;
b) Trường hợp quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã có hiệu lực thi hành mà người có đất, tài sản Nhà nước thu hồi không nhận tiền thì Tổ công tác có trách nhiệm tiếp tục tuyên truyền, vận động người có đất Nhà nước thu hồi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và nhận đất tái định cư (nếu có).
Hết thời gian tổ chức chi trả tiền theo kế hoạch, sau khi tuyên truyền, vận động ít nhất 03 lần trong thời hạn 05 ngày liên tục mà người có đất, tài sản Nhà nước thu hồi vẫn không nhận tiền và không bàn giao đất thì Tổ chức phát triển quỹ đất phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất gửi toàn bộ kinh phí bồi thường, hỗ trợ vào Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam gần nơi có đất thu hồi nhất với lãi suất không kỳ hạn và thông báo ngay bằng văn bản cho người có đất, tài sản Nhà nước thu hồi biết nơi gửi tiền, số tiền gửi. Việc gửi thông báo phải lập thành biên bản lưu hồ sơ bồi thường.
Sau 15 ngày gửi tiền vào Ngân hàng được coi là thời điểm thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ. Người có đất Nhà nước thu hồi phải bàn giao mặt bằng cho tổ chức phát triển quỹ đất hoặc chủ đầu tư thực hiện dự án theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.
3. Bàn giao đất khi Nhà nước đã thu hồi
a) Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án đã được phê duyệt hoặc 15 ngày kể từ ngày gửi tiền vào Ngân hàng (đối với trường hợp người có đất, tài sản trên đất Nhà nước thu hồi không nhận tiền) thì người có đất, tài sản Nhà nước thu hồi phải thu dọn tài sản, hoa mầu trên đất và bàn giao toàn bộ mặt bằng cho Tổ chức phát triển quỹ đất hoặc chủ đầu tư được giao đất hoặc cho thuê đất;
b) Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất, không chấp hành quyết định thu hồi đất thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất theo quy định tại Điều 15 Quy định này.