Điều 22. Hỗ trợ một số trường hợp cụ thể khi thu hồi đất
1. Đối với thửa đất có nhà ở
Đối với thửa đất có nhà ở nhưng không đủ điều kiện bồi thường về đất ở, thì tùy theo từng trường hợp cụ thể tổ chức thực hiện công tác bồi thường tham mưu Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Ủy ban Nhân dân cấp huyện gửi Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định trình Ủy ban Nhân dân tỉnh xem xét quyết định hỗ trợ theo diện tích thực tế các hộ đang sử dụng; nhưng mức hỗ trợ tối đa được quy định như sau:
a) Đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh thì mức hỗ trợ bằng giá đất ở theo Bảng giá đất do Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm quyết định thu hồi đất;
b) Đối với diện tích vượt hạn mức giao đất ở mức hỗ trợ bằng giá đất nông nghiệp tính theo hiện trạng đất đang sử dụng theo Bảng giá đất do Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
2. Đối với đất nông nghiệp
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 và Khoản 2 Điều 77 của Luật Đất đai thì được hỗ trợ bằng (50%) năm mươi phần trăm giá đất nông nghiệp theo Bảng giá đất do Ủy ban Nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất. Diện tích đất được hỗ trợ tính theo diện tích thực tế đất bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo hiện trạng đất đang sử dụng tại thời điểm thông báo thu hồi đất cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại Điều 129 Luật Đất đai (nhưng tổng diện tích được hỗ trợ tối đa không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp trồng cây lâu năm).
3. Các trường hợp sử dụng đất ở có nguồn gốc lấn chiếm: Khi Nhà nước thu hồi và phải di dời, được xem xét hỗ trợ chi phí di chuyển chỗ ở theo quy định Điều 18 quy định này và chi phí ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng cho một nhân khẩu với mức 30 kg gạo trong 01 tháng theo giá gạo trung bình ở tỉnh Tây Ninh do Sở Tài chính công bố tại thời điểm phê duyệt phương án.