vanban.org

Điều 12. Thông báo mời dự phiên đấu giá và tiền đặt cọc — Quyết định 17/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/08/2012 Thay thế: 27/2012/QĐ-UBND · 16/08/2012
Quảng Ngãi Ban hành 25/03/2009 Hiệu lực 04/04/2009 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 5 phiên bản · 17 năm
Quyết định số 17/2016/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 17/2016/QĐ-UBND
Quyết định số 27/2012/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 27/2012/QĐ-UBND
Quyết định số 17/2009/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 17/2009/QĐ-UBND
04/04/2009Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 17/2009/QĐ-UBND › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Thông báo mời dự phiên đấu giá và tiền đặt cọc

1. Thông báo mời dự phiên đấu giá

Trên cơ sở danh sách người đủ điều kiện tham gia đấu giá đã được phê duyệt, Hội đồng đấu giá hoặc tổ chức của Nhà nước có chức năng đấu giá quyền sử dụng đất tiến hành thông báo mời dự phiên đấu giá (có ghi rõ thời gian và địa điểm nộp tiền đặt cọc; địa điểm và thời gian tổ chức phiên đấu giá) tối thiểu trước 07 (bảy) ngày, kể từ ngày tổ chức đấu giá.

2. Tiền đặt cọc

a) Trên cơ sở thông báo mời dự phiên đấu giá, người tham gia đấu giá phải nộp cho Hội đồng đấu giá hoặc tổ chức của Nhà nước có chức năng đấu giá quyền sử dụng đất một khoản tiền đặt cọc bằng 5% (năm phần trăm) giá khởi điểm của thửa đất (lô đất) đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Khoản tiền này được thu bằng tiền đồng Việt Nam dưới hình thức bằng tiền mặt hoặc “Giấy bảo lãnh dự đấu giá” do Ngân hàng nơi người tham gia đấu giá giao dịch lập chứng từ xác nhận bảo lãnh có hiệu lực tối thiểu là 03 (ba) tháng, kể từ ngày bảo lãnh (ngày bảo lãnh phải nằm trong khoảng thời gian quy định nộp tiền đặt cọc).

Người trúng đấu giá được trừ tiền đặt cọc vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp.

b) Người tham gia đấu giá đất nhưng không trúng đấu giá được lấy lại tiền đặt cọc chậm nhất không quá 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày phiên đấu giá kết thúc

c) Người tham gia đấu giá không được lấy lại tiền đặt cọc trong các trường hợp sau:

c1) Đã đăng ký tham gia đấu giá đất và nộp tiền đặt cọc nhưng không tham gia đấu giá.

c2) Tại vòng đấu giá thứ nhất, trả giá thấp hơn giá khởi điểm đã được Hội đồng đấu giá hoặc tổ chức của Nhà nước có chức năng đấu giá quyền sử dụng đất công bố (trừ trường hợp quy định tại tiết b điểm 4.1 và tiết b điểm 4.2 khoản 4 Điều 14 của Quy chế này)

c3) Đối với trường hợp đấu giá bằng hình thức bỏ phiếu kín: Người tham gia đấu giá từ vòng thứ hai trở đi nhưng trả giá vòng sau thấp hơn giá cao nhất của vòng đấu trước trực tiếp cộng bước giá theo quy định.

c4) Đối với trường hợp đấu giá công khai bằng lời: Từ vòng đấu thứ hai trở đi, người trả giá sau thấp hơn người trả trước liền kề cộng với bước giá theo quy định.

c5) Tại phiên đấu giá đã trả giá cao nhất mà rút lại giá đã trả trước khi người điều hành phiên đấu giá công bố người trúng đấu giá.

c6) Trúng đấu giá nhưng rút lại giá đã trúng đấu giá ngay sau khi người điều hành phiên đấu giá vừa công bố trúng đấu giá hoặc sau thời điểm công bố trúng đấu giá.

c7) Trúng đấu giá nhưng từ chối nhận quyền sử dụng đất sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả trúng đấu giá.