Điều 13. Một số biện pháp khác
1. Các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quán triệt hơn nữa và thực hiện nghiêm túc chủ trương thực hành tiến kiệm, chống lãng phí về chi tiêu ngân sách, sử dụng tài sản công. Sáu tháng và cuối năm, các cơ quan, đơn vị, địa phương có đánh giá kết quả thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí theo biều mẫu hướng dẫn gửi Sở Tài chính thành phố để tổng hợp báo cáo UBND thành phố.
2. Các cơ quan Thanh tra thành phố, Thanh tra Tài chính, Thanh tra Thuế cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra công tác quản lý tài chính, ngân sách đối với các cơ quan, đơn vị, địa phương trình UBND thành phộ' phê duyệt để triển khai thực hiện; theo dõi phát hiện kịp thời những sai phạm trong việc quản lý, sử dụng ngân sách Nhà nước để có biện pháp chấn chỉnh, uốn nắn hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan Tài chính có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành tiếp tục đẩy mạnh công tác thực hiện giao quyền tự chủ tài chính theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP cho các đơn vị sự nghiệp có thu đã ổn định về tổ chức, bộ máy và ổn định nguồn thu trên tinh thần Chỉ thị số 18/2003/CT-TTg ngày 01 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ. Các đơn vị đã được giao quyền tự chủ tài chính, tiến hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ theo quy định tại Thông tư 50/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính. Sở Tài chính và KBNN thành phố hướng dẫn cho các đơn vị triển khai thực hiện việc này xong trong Quý 1/2004.
4. Tiếp tục mở rộng khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính thêm 4 cơ quan (Thanh tra thành phố, Sở Công nghiệp, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư) và 4 quận, huyện (Sơn Trà, Liên Chiều, Ngũ Hành Sơn và huyện Hòa Vang). Giao trách nhiệm cho Ban Tổ chức Chính quyền phối hợp với Sở Tài chính thành phố thẩm định Đề án đăng ký thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính của các cơ quan để trình UBND thành phố quyết định.
Riêng công tác quản lý ngân sách và các hoạt động tài chính khác của phường, xã thực hiện theo quy định tại Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính.
4.1- Về cấp phát thanh toán vốn đầu tư (kể cả vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư và xây dựng) thuộc nguồn vốn NSNN: Thực hiện theo qui định chung của Bộ Tài chính và qui định cụ thể của UBND thành phố. Trong đó:
a- Đối với vốn trong kế hoạch:
- Chủ đầu tư dự án phải gửi cơ quan Tài chính đồng cấp các tài liệu cơ sở của dự án để kiểm tra, thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư cho Chủ dự án theo hướng dẫn của Sở Tài chính.
- Trên cơ sở tài liệu của Chủ dự án gửi đến và kết quả kiểm tra, Sở Tài chính hoặc Phòng Tài chính quận, huyện (tùy theo nguồn vốn đầu tư của cấp ngân sách) thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư cho KBNN để làm căn cứ thanh toán cho các dự án sau khi thống nhất với Văn phòng HĐND và UBND thành phố (đối với dự án do thành phố quản lý); đồng gửi cho các ngành quản lý có dự án để theo dõi, phối hợp quản lý.
- Định kỳ hàng tháng, quý, năm, KBNN tổng hợp lập báo cáo tình hình thanh toán vốn đầu tư trên địa bàn theo nguồn vốn đầu tư của cấp ngân sách gửi cơ quan Tài chính đồng cấp. Đối với tình hình thanh toán vốn đầu tư từ nguồn ngân sách thành phố, Sở Tài chính có trách nhiệm tổng hợp gửi Văn phòng HĐND và UBND thành phố để báo cáo UBND thành phố.
b. Đối với vốn ngoài kế hoạch:
- Trên cơ sở chủ trương của UBND thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở Tài chính để thống nhất nguồn vốn ngân sách đảm bảo cho dự án, trình UBND thành phố xem xét quyết định bằng văn bản cụ thể.
- Sau khi có Quyết định của UBND thành phố về dự án ngoài kế hoạch phát, sinh, Sở Tài chính thực hiện thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư cho dự án như điểm a, khoản 4.1, Điều này.
c- Đối với các dự án đầu tư của xã, phường, việc quản lý vốn đầu tư được thực hiện theo Thông tư số 106/2003/TT-BTC ngày 07 tháng 11 năm 2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuởc xã, thị trấn