Điều 14. Tổ chức đoàn kiểm tra văn bản theo chuyên đề, địa bàn hoặc theo ngành, lĩnh vực.
1. Căn cứ vào yêu cầu, kế hoạch hoạt động hàng năm về công tác kiểm tra văn bản, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp các huyện, thị xã trình Chủ tịch UBND cùng cấp quyết định thành lập Đoàn kiểm tra văn bản theo chuyên đề, địa bàn hoặc theo ngành, lĩnh vực.
2. Đoàn kiểm tra làm việc trực tiếp với các cơ quan, đơn vị, địa phương (sau đây gọi chung là đơn vị) để thực hiện việc kiểm tra văn bản theo chuyên đề, địa bàn hoặc theo ngành, lĩnh vực.
3. Quy trình, thủ tục kiểm tra:
a) Đoàn kiểm tra có trách nhiệm gửi văn bản thông báo kế hoạch, lịch trình kiểm tra và các yêu cầu cần thiết cho đơn vị có văn bản được kiểm tra trước khi tiến hành kiểm tra ít nhất năm (05) ngày làm việc.
b) Đơn vị có văn bản được kiểm tra tập hợp các văn bản thuộc phạm vi kiểm tra gửi cho Đoàn kiểm tra để kiểm tra.
c) Trưởng Đoàn kiểm tra tổ chức kiểm tra các văn bản theo trình tự quy định tại Khoản 1, 2, 3 và Khoản 4 Điều 9 Quy định này.
d) Đoàn kiểm tra làm việc trực tiếp với đơn vị có văn bản được kiểm tra để trao đổi về kết quả kiểm tra.
đ) Đối với các văn bản phức tạp hoặc số lượng văn bản nhiều, Đoàn kiểm tra thống nhất với đơn vị có văn bản được kiểm tra về thời gian kiểm tra, thời hạn thông báo kết quả kiểm tra.
e) Trường hợp văn bản chưa được gửi trước về Đoàn kiểm tra, thì Đoàn kiểm tra làm việc trực tiếp với đơn vị có văn bản được kiểm tra theo đúng kế hoạch, trao đổi thông tin, tiếp nhận văn bản để kiểm tra, thống nhất thời gian kiểm tra, thời hạn thông báo kết quả kiểm tra. Trưởng Đoàn kiểm tra tổ chức kiểm tra văn bản theo quy định và thông báo bằng văn bản về kết quả kiểm tra đến đơn vị có văn bản được kiểm tra sau khi hoàn tất việc kiểm tra.
4. Việc xử lý văn bản trái pháp luật qua kiểm tra phát hiện được thực hiện theo quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều 13 Quy định này.