Điều 10. Quy trình tự kiểm tra và xử lý văn bản khi nhận được thông báo hoặc yêu cầu, kiến nghị
1. Cơ quan kiểm tra văn bản, các cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản có trách nhiệm tổ chức kiểm tra văn bản khi nhận được thông báo, yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng hoặc tự phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật đối với các văn bản quy định tại Khoản 2 Điều 1 Quy định này.
2. Trình tự, thủ tục kiểm tra và xử lý văn bản thực hiện theo quy định tại Điều 9 Quy định này.
3. Trường hợp văn bản được kiểm tra không có dấu hiệu trái pháp luật, cơ quan, cá nhân thực hiện việc tự kiểm tra văn bản phối hợp với đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản đó (nếu có) dự thảo văn bản thông báo kết quả tự kiểm tra trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp ký (đối với văn bản do UBND, Chủ tịch UBND ban hành) hoặc có thông báo kết quả kiểm tra (đối với văn bản do mình ban hành) gửi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu, kiến nghị.
4. Hồ sơ về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật ngoài các tài liệu nêu tại Khoản 4 Điều 9 Quy định này còn phải bao gồm văn bản thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc văn bản yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân (nếu có).
5. Đối với văn bản quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 1 Quy định này, trường hợp qua kiểm tra phát hiện văn bản có nội dung trái pháp luật, trái thẩm quyền hoặc không còn phù hợp thì thủ trưởng cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản đó có trách nhiệm xem xét, xử lý văn bản trái pháp luật đã ban hành.
6. Thời hạn tự kiểm tra và xử lý văn bản theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và Khoản 5 Điều này là ba mươi (30) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc nhận được yêu cầu, kiến nghị của tổ chức, cá nhân.