Điều 14. Quyết định thu hồi đất
1. Việc ra quyết định thu hồi đất được thực hiện theo thẩm quyền quy định tại Điều 44 của Luật Đất đai.
2. Ngay sau khi có ý kiến bằng văn bản gửi tổ thẩm định về rà soát phương án bồi thường chủ đầu tư có trách nhiệm gửi hồ sơ thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất đến cơ quan Tài nguyên và Môi trường theo quy định sau:
a) Trường hợp khu đất thu hồi chỉ có thửa đất do hộ gia đình, cá nhân, công đồng dân cư, người việt nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam quản lý sử dụng thì nộp hồ sơ tại phòng tài nguyên và Môi trường huyện, thị xã
b) Trường hợp khu đất bị thu hồi chỉ có thửa đất do tổ chức quản lý sử dụng thuộc thẩm quyền thu hồi của Uỷ ban nhân dân tỉnh thì chủ đầu tư nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường.
c) Trường hợp khu đất bị thu hồi có thửa đất quy định tại cả khoản a, b điều này thì chủ đầu tư nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường.
3. Trong thời hạn không quá mười (10) ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thẩm định trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp xem xét quyết định.
4. Trong thời hạn không quá năm (05) ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và tờ trình của cơ quan tài nguyên và môi trường Uỷ ban nhân dân cùng cấp xem xét quyết định (kể cả quyết định thu hồi chung cho thửa đất quy định tại điểm c, khoản 2 điều này).
5. Trong thời hạn không quá năm (05) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi chung của Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tại khoản 4, điều này, Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi từng thửa đất thuộc thẩm quyền, quy định tại khoản 2 Điều 44 Luật Đất đai năm 2003.
6. Quyết định thu hồi đất phải được gửi đến người có đất bị thu hồi và được niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã trong suốt thời gian kể từ ngày Uỷ ban nhân dân cấp xã nhận được quyết định thu hồi đến thời điểm kết thúc việc thu hồi.