Điều 8. Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ
1. Cán bộ, công chức khi mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ đi công tác hoặc về nhà riêng phải có văn bản xin phép và được sự đồng ý của người đứng đầu hoặc cấp phó được ủy quyền của các cơ quan, đơn vị, địa phương; đồng thời phải đăng ký với bộ phận bảo mật và có phương án bảo vệ chặt chẽ. Khi hoàn thành nhiệm vụ phải cùng cán bộ bảo mật kiểm tra, đối chiếu và nộp lại cơ quan.
2. Cán bộ, công chức khi mang bí mật nhà nước ra nước ngoài công tác, học tập phải có văn bản xin phép và được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1, Điều 5 Quy chế này hoặc cấp phó được ủy quyền đồng ý và phải báo cáo với Trưởng đoàn.
Văn bản xin phép phải ghi đầy đủ các nội dung: Họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người mang thông tin; độ mật của bí mật nhà nước sẽ mang đi; mục đích sử dụng; thời gian công tác, học tập ở nước ngoài; biện pháp bảo vệ trong thời gian ở nước ngoài.
3. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh thực hiện việc mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra nước ngoài công tác, học tập theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
4. Công an tỉnh thực hiện việc mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra nước ngoài công tác, học tập theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.
5. Trong thời gian mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ, nếu phát hiện bí mật nhà nước bị lộ, bị mất, người mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải báo cáo ngay với người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trực tiếp quản lý, Trưởng đoàn công tác để có biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả kịp thời.