Điều 18. Chế độ thông tin báo cáo sơ kết và tổng kết công tác bảo vệ bí mật nhà nước
1. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước ở cơ quan, đơn vị, địa phương mình về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Phòng An ninh chính trị nội bộ, Công an tỉnh) để tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Chính phủ và Bộ Công an.
a) Báo cáo sơ kết một năm một lần; báo cáo tổng kết năm năm một lần;
b) Báo cáo đột xuất được thực hiện ngay sau khi phát hiện vụ lộ, mất bí mật nhà nước hoặc theo đề nghị của Công an tỉnh;
c) Thời hạn chốt số liệu trong chế độ báo cáo hằng năm: Tính từ ngày 15 tháng 12 năm trước kỳ báo cáo đến ngày 14 tháng 12 của kỳ báo cáo;
d) Thời hạn gửi báo cáo hằng năm: Thời hạn gửi báo cáo định kỳ hằng năm về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Phòng An ninh chính trị nội bộ, Công an tỉnh) chậm nhất vào ngày 15 tháng 12 của năm báo cáo.
2. Nội dung báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước.
a) Phân tích, đánh giá tình hình liên quan đến công tác bảo vệ bí mật nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, địa phương;
b) Kết quả thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước; ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo, thực hiện;
c) Tình hình, số liệu các vụ lộ, mất bí mật nhà nước; nguyên nhân và việc xử lý, khắc phục hậu quả;
d) Dự báo tình hình; dự kiến công tác trọng tâm bảo vệ bí mật nhà nước và đề xuất, kiến nghị.
3. Công an tỉnh có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh sơ kết một năm một lần, tổng kết năm năm một lần về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi toàn tỉnh.