Điều 8. Hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất ở có vườn ao theo khoản 5 Điều 87 Luật Đất đai
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở có vườn ao không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai, mà đất đó được sử dụng ổn định, ranh giới rõ ràng, không có tranh chấp thì hạn mức công nhận đất ở khi xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được quy định như sau:
1. Đối với trường hợp sử dụng đất ổn định trước ngày 18/12/1980 thì hạn mức công nhận đất ở được xác định theo Điều 6 của Quy định này.
2. Trường hợp đất sử dụng ổn định từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 thì hạn mức công nhận đất ở theo quy định tại Điều 4 (đối với đất ở tại đô thị), Điều 5 (đối với đất ở tại nông thôn) của Quy định nay.
3. Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích lớn hơn hạn mức công nhận đất ở khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì diện tích đất ở xác định không vượt quá hạn mức công nhận đất ở, phần diện tích còn lại xác định theo hiện trạng, nếu hiện trạng còn lại là đất ở thì phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định. Trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn hạn mức đất ở quy định tại khoản 1, 2 Điều này thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.