Điều 9. Bồi thường thiệt hại đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất làm muối, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản, đất mồ mả:
1. Khi thu hồi đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất làm muối, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản (không xen lẫn đất ở) của người sử dụng đất được cấp có thẩm quyền cấp đất, giao đất sử dụng lâu dài theo đúng qui định của Pháp luật về đất đai thì người bị thu hồi được bồi thường bằng đất theo diện tích và hạng đất của đất bị thu hồi. Nếu không có đất bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền theo giá đất quy định tại Điều 8 của bản quy định này.
Đất ở những nơi mới đô thị hóa, hoặc đất ở của hộ gia đình có khuôn viên rộng thì được bồi thường thiệt hại theo mức diện tích đất ở được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép dùng làm đất ở. Phần diện tích còn lại được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cộng thêm một khoản tiền tối đa bằng 20% chênh lệch giữa giá bồi thường đất ở của khuôn viên đó với giá đất nông nghiệp được đền bù.
2. Người bị thu hồi đất do Nhà nước giao cho sử dụng tạm thời, đất đấu thầu thì không được bồi thường thiệt hại về đất. Việc bồi thường thiệt hại chi phí đã đầu tư vào đất (nếu có) do Hội đồng bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng đề xuất trình Chủ tịch UBND thành phố xem xét quyết định; Người thuê của Nhà nước đã nộp trước tiền thuê đất cho nhiều năm bị thu hồi trước thời hạn Hợp đồng thì người sử dụng đất được bồi thường số tiền thuê đất đã nộp cho thời gian chưa được sử dụng tính theo giá đất thời điểm có quyết định thu hồi đất.
3. Người tự khai hoang để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và liên tục sử dụng cho đến khi thu hồi đất, không có tranh chấp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước thì được bồi thường theo khoản 1, Điều này;
4. Đối với đất mồ mả, khu nghĩa trang, nghĩa địa không bồi thường thiệt hại về đất chỉ bồi thường chi phí di dời mồ mả và được cải táng tại các khu quy hoạch nghĩa trang.