Điều 10. Hạn mức đất ở được bồi thường:
a/ Những trường hợp tại điều 6 đã qui định mức đền bù về đất thì thực hiện theo qui định tại điều 6;
b/ Hạn mức đất ở làm cơ sở bồi thường thiệt hại về đất qui định đối với từng địa phương phường, xã, quận, huyện theo Nghị quyết HĐND thành phố Đà Nẵng khóa V, kỳ họp lần thứ 2 ngày 27 tháng 6 năm 1997 như sau:
- Quận Hải Châu:
+ Phường Khuê Trung và phường Hòa Cường là: 300m2/1 hộ;
+ Các phường còn lại: 200m2/1 hộ.
- Quận Thanh Khê:
+ Phường An Khê và phường Thanh Lộc Đán là: 300m2/1 hộ;
+ Các phường còn lại: 200m2/1 hộ.
- Quận Sơn Trà: 300m2/ 1 hộ.
- Quận Ngũ Hành Sơn:
+ Phường Bắc Mỹ An: 300m2/1 hộ.
+ Phường Hòa Quý, Hòa Hải: 400m2/1 hộ. Đối với những trường hợp sử dụng đất ở có vị trí nằm mặt tiền đường Lê Văn Hiến và Trần Đại Nghĩa là 300m2/1 hộ.
- Quận Liên Chiểu: 400m2/1 hộ. Đối với những trường hợp sử dụng đất có vị trí nằm mặt tiền đường Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Cừ, Âu Cơ là 300m2/1 hộ.
- Huyện Hòa Vang: 400m2/1 hộ. Đối với những trường hợp sử dụng đất có vị trí nằm mặt tiền đường Trường Chinh, Quốc lộ 1A, 14B, đường 601, đường 602 là: 300m2/1 hộ.
Đối với những hộ đủ điều kiện bồi thường 100% hạn mức đất ở, ở vùng mới được đô thị hóa sau ngày 15 tháng 10 năm 1993, các hộ bị thu hồi đất có đất khuôn viên rộng; Hiện đang có ít nhất 3 thế hệ cùng sống chung trong một hộ, thì có thể bồi thường đất ở mức cao hơn, nhưng tối đa không quá hai lần hạn mức đất ở quy định đối với từng địa bàn. Việc nâng hạn mức đất ở cho từng trường hợp do Hội đồng bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng trình Chủ tịch UBND thành phố xem xét quyết định.