Điều 11. Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ khoản viện trợ
1. Chủ khoản viện trợ phải được xác định trong quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tiếp nhận viện trợ.
2. Chủ khoản viện trợ chịu trách nhiệm:
a) Tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện khoản viện trợ trên cơ sở quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Quản lý và sử dụng tài chính, tài sản thuộc nguồn vốn viện trợ theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu của bên cung cấp viện trợ. Trường hợp không thành lập Ban quản lý dự án, chủ khoản viện trợ phải mở tài khoản để tiếp nhận và giải ngân khoản viện trợ tại Kho bạc nhà nước tỉnh hoặc ngân hàng thương mại được thành lập và hoạt động theo pháp luật của Việt Nam. Thực hiện các hoạt động thu, chi cho khoản viện trợ qua tài khoản trên cơ sở kế hoạch tài chính đã được phê duyệt;
b) Xây dựng kế hoạch hoạt động, kế hoạch tài chính hằng năm gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; Xây dựng dự toán thu chi ngân sách nhà nước hằng năm đối với các khoản viện trợ thuộc nguồn thu ngân sách nhà nước gửi Sở Tài chính tổng hợp, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt;
c) Thực hiện các nhiệm vụ tại điểm c, d, đ khoản 2 và khoản 3, khoản 5, khoản 6 Điều 14 Nghị định số 80/2020/NĐ-CP .
3. Báo cáo tình hình tiếp nhận viện trợ, tình hình thực hiện, giải ngân khoản viện trợ 06 tháng (chậm nhất vào ngày 05/7) và báo cáo hằng năm (chậm nhất vào ngày 05/01 của năm tiếp theo) cho Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng thời gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Công an tỉnh và các cơ quan liên quan để theo dõi. Báo cáo kết thúc khoản viện trợ phải gửi Ủy ban nhân dân tỉnh (thông qua Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính) chậm nhất không quá 06 tháng sau khi kết thúc thực hiện. Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan về tính chính xác của thông tin, số liệu báo cáo trong phạm vi quản lý.