vanban.org

Điều 9. Gửi và niêm yết công khai quyết định cưỡng chế — Quyết định 138/2017/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 28/12/2017 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Ninh Thuận Ban hành 18/12/2017 Hiệu lực 28/12/2017 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 10 năm
Quyết định số 138/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực thi hành trên địa bàn tỉnh · 138/2017/QĐ-UBND
28/12/2017Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 09/2016/QĐ-UBND Ban hành Quy định trình tự, thủ tục thi hành và cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hòa giải thành trong giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực pháp luật trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận · 09/2016/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 138/2017/QĐ-UBND › Chương II › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Gửi và niêm yết công khai quyết định cưỡng chế

  1. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kẻ từ ngày có quyết định cưỡng chế, người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế phải gửi quyết định cưỡng chế cho Sở Tài nguyên và Môi trường, ủy ban nhân dân cấp xã, úy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất tranh chấp và các tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan (nếu có).
  2. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế, ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp có trách nhiệm giao/gửi quyết định cưỡng chế cho người bị cưỡng chế theo một trong các hình thức như sau:
  1. Giao trực tiếp trong trường hợp người bị cưỡng chế đang cư trú hoặc công tác (đối với cá nhân), có trụ sở chính (đối với tổ chức) trên địa bàn quản lý của ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Việc giao quyết định cưỡng chế phải được lập thành biên bản.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối, không nhận quyết định cường che thì ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp lập biên bản ghi nhận sự việc; trường hợp này được coi là quyết định đã được giao.

Trường hợp người bị cưỡng chế vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp giao quyết định cưỡng chế cho một trong những thành viên trong hộ gia đình của người bị cưỡng chế có đủ năng lực hành vi dân sự; lập biên bản ghi nhận rõ sự việc và phải có chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người nhận (trường hợp người nhận từ chối, không ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản thì trong biên bản ghi rõ lý do); trường hợp này được coi là quyêt định đã được giao.

  1. Gửi qua dịch vụ chuyển phát bằng hình thức bảo đảm trong trường hợp người bị cưỡng chê cư trú hoặc công tác (đổi vói jcá nhâụX trụ sở chính (đối vớì tô chửc) ngoai đỊa bản quản lý của Uy banmhân dân cấp xã nơi cỏ đất tranh chấp. Trường hợp quyết định cưỡng chế đã được gửi qua dịch vụ chuyển phát đến lần thứ hai mà bị trả lại do người bị cưỡng chế từ chối, không nhận; quyết định cưỡng chế đã được niêm yết tại nơi cư trú hoặc công tác của cá nhân, trụ sở của tổ chức bị cưỡng chế hoặc có căn cứ cho rằng người bị cưỡng chế trốn tránh không nhận quyết định cưỡng chế thì được coi là quyết định đã được gửi.

3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế, ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp có trách nhiệm tổ chức niêm yết công khai quyết định cưỡng chế tại trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất tranh chấp trong thời gian 05 ngày liên tục, kể từ ngày niêm yết công khai.

Việc mở niêm yết và kết thúc niêm yết quyết định cưỡng chế phải được lập thành biên bản, có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã, ủy ban Mặt trận Tồ quốc Việt Nam cấp xã và Trưởng khu dân cư (thôn, khu phố) nơi thực hiện việc niêm yết.