vanban.org

Điều 13. Vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế — Quyết định 138/2017/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 28/12/2017 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Ninh Thuận Ban hành 18/12/2017 Hiệu lực 28/12/2017 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 10 năm
Quyết định số 138/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực thi hành trên địa bàn tỉnh · 138/2017/QĐ-UBND
28/12/2017Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 09/2016/QĐ-UBND Ban hành Quy định trình tự, thủ tục thi hành và cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hòa giải thành trong giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực pháp luật trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận · 09/2016/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 138/2017/QĐ-UBND › Chương II › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế

  1. Trước khi tiến hành cưỡng chế ít nhất 15 ngày làm việc, Ban thực hiện cưỡng chế chủ trì, phối hợp cùng ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và Trưởng khu dân cư (thôn, khu phố) nơi có đất tranh chấp tiến hành vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế. Nội dung về diễn biến và kết quả của buổi vận động, thuyết phục, đối thoại phải được ghi nhận bằng biên bản.
  2. Trường hợp người bị cưỡng chế có ý kiến chấp hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thì người bị cưỡng chế phải tiến hành thực hiện và hoàn thành các nội dung nêu tại quyết định giải quyết tranh chấp đất đai trong thời hạn không quá 05 ngày, kể từ ngày lập biên bản, dưới sự giám sát của Ban thực hiện cưỡng chế. Quá thời hạn này mà người bị cưỡng chế chưa hoàn thành xong các nội dung nêu tại quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thì xem như trường hợp không chấp hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai. Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm lập biên bản ghi nhận kết quả việc người bị cưỡng chế hoàn thành xong hoặc chưa hoàn thành xong các nội dung nêu tại quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, có xác nhận của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và Trưởng khư dân cư (thôn, khu phố) nơi có đất tranh chắp.
  3. Trường hợp người bị cưỡng che có ý kiến không chấp hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai sau khi đã được vận động, thuyết phục, đối thoại thì Ban thực hiện cưỡng chế phải tổ chức thi hành quyết định cưỡng chể.