Điều 19. Chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đối với cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã
1- Cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã được thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành của Chính phủ và của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, bao gồm các chế độ: Trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất, nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ và bảo hiểm y tế.
2- Mức nộp bảo hiểm xã hội bằng 20% tiền lương hàng tháng của cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã bao gồm: Tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ; phụ cấp tái cử và chênh lệch bảo lưu tiền lương (nếu có); trong đó cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã nộp 5%, UBND cấp xã nộp 15%.
- Mức nộp bảo hiểm y tế bằng 3% tiền lương hàng tháng của cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã bao gồm: Tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ; phụ cấp tái cử và chênh lệch bảo lưu tiền lương (nếu có); trong đó cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã nộp 1% , UBND cấp xã nộp 2%.
Cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã có đóng BHXH, BHYT được cấp sổ BHXH và phiếu khám chữa bệnh theo quy định.
3- Cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã khi nghỉ việc, nếu có thời gian nộp BHXH đủ 10 năm trở lên và còn thiếu không quá 5 năm tuổi đời để nghỉ hưu theo quy định, không nhận trợ cấp BHXH một lần và tự nguyện nộp tiếp tiền BHXH hàng tháng bằng 15% tiền lương tháng trước khi nghỉ việc cho cơ quan BHXH ở nơi cư trú cho đến khi đủ thời gian nộp BHXH và đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định thì được hưởng chế độ hưu trí.
4- Cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã có thời gian nộp BHXH theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP và sau đó tiếp tục được nộp BHXH theo quy định tại Nghị định số 121/2003/NĐ-CP và Thông tư số 34/2004/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH thì thời gian làm việc có nộp BHXH theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP được cộng với thời gian làm việc có nộp BHXH theo Nghị định số 121/2003/NĐ-CP để tính hưởng chế độ BHXH.
5- Cách tính lương hưu hàng tháng, trợ cấp một lần khi hưởng chế độ BHXH.
- Cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã nộp BHXH theo mức tiền lương quy định tại Nghị định số 121/2003/NĐ-CP và Thông tư số 34/2004/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH thì lấy bình quân tiền lương háng tháng của 5 năm cuối (kể cả phụ cấp tái cử và chênh lệch bảo lưu tiền lương nếu có) để tính lương hưu hoặc trợ cấp một lần khi hưởng chế độ BHXH.
- Cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã vừa có thời gian nộp BHXH theo mức tiền lương quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ/CP vừa có thời gian nộp BHXH theo mức tiền lương quy định tại Nghị định số 121/2003/NĐ-CP và Thông tư số 34/2004/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH thì lấy bình quân tiền lương háng tháng của 5 năm cuối (kể cả phụ cấp tái cử và chênh lệch bảo lưu tiền lương nếu có) để tính lương hưu hoặc trợ cấp một lần khi hưởng chế độ BHXH.
6- Cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã là người đang hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp mất sức lao động, bệnh binh hạng 1 và hạng 2 được hưởng 100% mức lương theo quy định của Nghị định 121/2003/NĐ-CP đến hết ngày 31/12/2004, từ ngày 01/01/2005 được hưởng 40% mức lương của chức danh đang đảm nhiệm; những trường hợp này không phải đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công chức cấp xã.
7- Cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã là thương binh, quân nhân mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng lương 100% mức lương chức danh đang đảm nhiệm, được nộp và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định.
8- Cán bộ cấp xã có thời gian công tác và tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định tại Nghị định 09/1998/NĐ-CP, khi thực hiện Nghị định 121/2003/NĐ-CP không còn là cán bộ chuyên trách hoặc công chức cấp xã được giải quyết chế độ như sau:
8.1- Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi nếu có thời gian công tác liên tục và nộp bảo hiểm xã hội đủ 15 năm thì được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng bằng 45% mức sinh hoạt phí bình quân của 5 năm cuối; nếu có thời gian công tác liên tục và nộp bảo hiểm xã hội trên 15 năm thì từ năm thứ 16 trở đi, cứ thêm 01 năm công tác và nộp bảo hiểm xã hội được tính thêm 2% nhưng mức trợ cấp cao nhất không quá 75% mức sinh hoạt phí bình quân của 5 năm cuối trước khi nghỉ việc.
8.2. Trường hợp chưa đủ 15 năm nộp bảo hiểm xã hội liên tục, khi nghỉ việc được hưởng trợ cấp một lần, cứ mỗi năm công tác có nộp bảo hiểm xã hội được hưởng một tháng sinh hoạt phí bình quân của 5 năm cuối trước khi nghỉ việc.
8.3. Trường hợp đã đủ 15 năm nộp bảo hiểm xã hội liên tục trở lên nhưng chưa đủ tuổi đời để hưởng trợ cấp hàng tháng mà không hưởng trợ cấp một lần, nếu có đơn tự nguyện chờ giải quyết chế độ trợ cấp hàng tháng và được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận thì đến khi đủ 55 tuổi với nam và đủ 50 tuổi với nữ được hưởng trợ cấp hàng tháng theo quy định tại điểm 8.1 và điều 22 đã nêu ở trên. UBND cấp xã có trách nhiệm lập đủ hồ sơ của những người đủ điều kiện chờ giải quyết chế độ trợ cấp hàng tháng, gửi cơ quan bảo hiểm xã hội tại địa phương để quản lý, theo đõi và giải quyết khi những người này đủ điều kiện về tuổi đời.
9. Cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã kể từ ngày 01/11/2003 đến ngày 01/07/2004 chưa được xếp lương và nộp bảo hiểm xã hội theo quy định tại Nghị định 121/2003/NĐ-CP thì khi nghỉ việc được giải quyết chế độ theo điểm 8 điều 19 đã nêu trên.