vanban.org

Điều 9. Phòng, chống phần mềm độc hại — Quyết định 13/2020/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 24/07/2020 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Quảng Bình Ban hành 14/07/2020 Hiệu lực 24/07/2020 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 11 năm
Quyết định số 13/2020/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đảm bảo an toàn thông tin mạng trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin của các cơ quan nhà nước tỉnh Quảng Bình · 13/2020/QĐ-UBND
24/07/2020Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 26/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đảm bảo an toàn thông tin trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Bình · 26/2014/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 13/2020/QĐ-UBND › Chương II › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Phòng, chống phần mềm độc hại

1. Tất cả máy chủ, máy trạm của cơ quan, tổ chức phải được trang bị phần mềm phòng, chống phần mềm độc hại có bản quyền và đã được cơ quan chức năng khuyến cáo sử dụng. Phần mềm phòng, chống phần mềm độc hại phải được thiết lập chế độ tự động cập nhật và chế độ tự động quét phần mềm độc hại khi sao chép, mở các tệp tin.

2. Hệ điều hành, phần mềm cài đặt trên máy chủ, máy trạm phải được cập nhật vá lỗ hổng bảo mật thường xuyên, kịp thời.

3. Cá nhân không được tự ý gỡ bỏ các phần mềm phòng, chống phần mềm độc hại trên máy tính khi chưa có sự đồng ý của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức.

4. Tất cả các máy tính của cơ quan, tổ chức phải được cấu hình vô hiệu hóa tính năng tự động thực thi (autoplay) các tệp tin trên các thiết bị lưu trữ di động kết nối vào.

5. Máy tính xách tay, thiết bị di động (máy tính bảng, điện thoại thông minh, thiết bị có phần mềm hệ điều hành) trước khi kết nối vào mạng nội bộ (LAN) của cơ quan, tổ chức phải bảo đảm đã được cài đặt phần mềm phòng, chống phần mềm độc hại và đã được kiểm duyệt về các phần mềm độc hại.

6. Máy chủ chỉ được dùng để cài đặt các phần mềm, dịch vụ dùng chung của cơ quan, tổ chức; không cài đặt phần mềm không rõ nguồn gốc, phần mềm phục vụ mục đích cá nhân và không phục vụ công việc.

7. Khi kết nối từ xa vào máy chủ để quản trị, phải sử dụng phương thức kết nối có mã hóa. Khuyến khích sử dụng mạng diện rộng của tỉnh (được thiết lập trên nền tảng mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước) để truy nhập, khai thác các hệ thống thông tin dùng chung của tỉnh.

8. Tất cả các tệp tin, thư mục phải được quét phần mềm độc hại trước khi sao chép, sử dụng, truyền đưa, trao đổi.

9. Khi phát hiện ra bất kỳ dấu hiệu nào liên quan đến việc bị nhiễm phần mềm độc hại trên máy trạm như: hoạt động chậm bất thường, có cảnh báo từ phần mềm phòng chống phần mềm độc hại, tình trạng này lặp đi lặp lại nhiều lần, ở các vị trí khác nhau, nhất là có dấu hiệu bị thay đổi, mất dữ liệu, người sử dụng phải tắt máy, ngắt kết nối từ máy tính đến mạng nội bộ (LAN), mạng diện rộng (WAN), mạng Internet và báo cáo, thông báo trực tiếp cho cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng hoặc bộ phận có trách nhiệm của cơ quan, tổ chức để xử lý.

10. Sở Thông tin và Truyền thông tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống phòng, chống phần mềm độc hại tập trung cho các máy chủ, máy trạm của các cơ quan nhà nước tỉnh.