Điều 18. Kết luận và phát hành kết luận thanh tra, kiểm tra
1. Chậm nhất 15 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra, Tổng Kiểm toán Nhà nước xem xét nội dung báo cáo và ra kết luận thanh tra, kiểm tra.
a) Trong quá trình ra kết luận thanh tra, kiểm tra, Tổng Kiểm toán Nhà nước yêu cầu Trưởng đoàn, thành viên Đoàn thanh tra hoặc đối tượng thanh tra, kiểm tra giải trình để làm rõ thêm những vấn đề mà báo cáo của Trưởng đoàn chưa rõ. Trường hợp cần thiết, Tổng Kiểm toán Nhà nước yêu cầu tiến hành thanh tra, kiểm tra bổ sung để có đủ căn cứ kết luận.
b) Trước khi ra kết luận, Tổng Kiểm toán Nhà nước có thể tổ chức làm việc với đối tượng thanh tra, kiểm tra về dự thảo kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc gửi dự thảo kết luận thanh tra, kiểm tra yêu cầu đối tượng thanh tra, kiểm tra trả lời bằng văn bản, nêu rõ những nội dung chưa thống nhất, nguyên nhân và chứng cứ.
c) Tổng Kiểm toán Nhà nước có thể ủy quyền cho Trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra tổ chức làm việc với đối tượng thanh tra, kiểm tra về dự thảo kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc công bố kết luận thanh tra, kiểm tra.
2. Khi kết thúc cuộc họp thông báo về dự thảo kết luận hoặc công bố kết luận thanh tra, kiểm tra phải lập biên bản ghi đầy đủ ý kiến hai bên.
Khi có kết luận chính thức, Tổng Kiểm toán Nhà nước công bố hoặc gửi kết luận thanh tra, kiểm tra cho đối tượng thanh tra, kiểm tra.
3. Việc gửi kết luận thanh tra, kiểm tra thực hiện theo quy định tại Điều 43 Luật Thanh tra và Điều 35 Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 25/03/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra. Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xử lý sau thanh tra hoặc có trách nhiệm thực hiện kết luận thanh tra, nếu xét thấy không cần thiết gửi toàn bộ kết luận thì trích nội dung kết luận có liên quan hoặc có văn bản đối với từng sự việc gửi tới cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.