vanban.org

Điều 12. Xử lý các trường hợp đột xuất trong quá trình thanh tra, kiểm tra — Quyết định 11/2007/QĐ-KTNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/02/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 25/02/2025 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 05/2025/QĐ-KTNN · 25/02/2025
Kiểm toán nhà nước Ban hành 10/12/2007 Hiệu lực 11/01/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 11/2007/QĐ-KTNN Quy trình thanh tra, kiểm tra của Kiểm toán nhà nước · 11/2007/QĐ-KTNN
25/02/202505/2025/QĐ-KTNNBãi bỏ Đang xem 11/01/2008Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 11/2007/QĐ-KTNN › Chương 3 › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Xử lý các trường hợp đột xuất trong quá trình thanh tra, kiểm tra

1. Trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra

a) Khi có yêu cầu cấp thiết hoặc phát hiện có tình tiết mới phải thay đổi hoặc bổ sung nội dung thanh tra, kiểm tra, thành viên Đoàn thanh tra, kiểm tra thì Trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra phải có văn bản báo cáo Tổng Kiểm toán Nhà nước xem xét, chỉ đạo và chỉ được thực hiện khi có quyết định bằng văn bản của Tổng Kiểm toán Nhà nước.

b) Khi phát hiện đối tượng thanh tra, kiểm tra có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì Trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra phải củng cố hồ sơ và báo cáo bằng văn bản với Tổng Kiểm toán Nhà nước để xem xét và quyết định chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát thụ lý theo thẩm quyền.

c) Trường hợp cần thu thập thêm thông tin, tài liệu làm cơ sở cho việc thanh tra, kiểm tra, Trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra có quyền yêu cầu đơn vị được thanh tra, kiểm tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin tài liệu cần thiết.

2. Trách nhiệm của thành viên Đoàn thanh tra, kiểm tra

Khi phát hiện thấy đối tượng thanh tra, kiểm tra có dấu hiệu vi phạm cần xử lý ngay hoặc phát sinh những vấn đề vượt quá thẩm quyền thì thành viên Đoàn thanh tra, kiểm tra phải báo cáo bằng văn bản với Trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra để xem xét, quyết định.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo đề xuất, Tổng Kiểm toán Nhà nước phải ra quyết định chuyển hồ sơ nếu có đủ chứng cứ chứng minh đối tượng thanh tra, kiểm tra có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự hoặc trả lời bằng văn bản cho người đề xuất việc không chuyển hồ sơ nếu thấy không đủ căn cứ khẳng định đối tượng thanh tra, kiểm tra vi phạm pháp luật hình sự để lưu hồ sơ cuộc thanh tra, kiểm tra.

4. Trong quá trình thanh tra, kiểm tra Trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra có thể tổ chức họp đoàn thanh tra, kiểm tra khi cần thiết; nội dung cuộc họp phải được ghi thành biên bản để lưu hồ sơ.