Điều 4. Quản lý thu ngân sách.
1. Sau khi giao dự toán thu, ngành Thuế chủ trì phối hợp với các ngành chức năng tổ chức triển khai nhiệm vụ ngân sách và chống thất thu thuế. Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, Ngành cấp tỉnh và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 1582/QĐ-UBTM ngày 2/5/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc phê duyệt đề án "Những giải pháp phát triển nguồn thu và chống thất thu ngân sách trên địa bàn Nghệ An" và các chế độ, chính sách khác có liên quan.
2. Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí phải sử dụng biên lai thu do ngành Thuế quản lý. Đối với những khoản thu ngoài thuế phải sử dụng biên lai do Bộ Tài chính quy định tại Quyết định số 141/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/ 2001.
Việc quản lý thu, sử dụng phí và lệ phí thực hiện theo Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí và các văn bản hướng dẫn khác. Giao Tổ triển khai Pháp lệnh phí, lệ phí phối hợp với các ngành có liên quan rà soát lại danh mục phí, lệ phí trên địa bàn, tham mưu cho HĐND và UBND tỉnh ban hành danh mục phí, lệ phí mối theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước.
3. Đối với các khoản thu sự nghiệp: Thực hiện theo quy định tại Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21/3/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ về cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu.
4. Các cơ quan được giao nhiệm vụ thu, đặc biệt là cơ quan Thuế, Cục Hải quan tỉnh phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước tổ chức quản lý, tập trung nguồn thu vào NSNN, thực hiện công tác kiểm tra, đối chiếu đảm bảo mọi nguồn thu ngân sách phải được tập trung đầy đủ, kịp thời vào quỹ NSNN theo đúng Thông tư số 80/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính.
Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp cần có kế hoạch và biện pháp phấn đấu tăng thu ngân sách và phải thực hiện ngay từ những tháng đầu, quý đầu.
Các doanh nghiệp phải nộp ngân sách kịp thời, theo số phát sinh thực tế, tuyệt đối không được để tồn đọng các khoản phải nộp ngân sách.
Ngành Thuế phải cải tiên công tác thu, đơn giản hóa các thủ tục về thu nộp và tính thuế. Tập trung chỉ đạo việc kê khai, tính thuế, kiểm tra đối với hộ kinh doanh buôn bán vừa và lớn, chống thất thu. Thực hiện ổn định và công khai mức khoán thuế từ 6 tháng đến 1 năm đối với các hộ kinh doanh buôn bán nhỏ để họ yên tâm sản xuất kinh doanh. Mở rộng hình thức tự kê khai, tính thuế, xác định đóng thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của người sản xuất kinh doanh.
Tổ chức giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN trên địa bàn, tăng cường kiểm tra và đôn đốc thu nộp thuế theo sát kết quả sản xuất kinh doanh, kiểm tra chặt chẽ công tác kế toán, các hoá đơn bán hàng hay cung cấp lao vụ để loại trừ chi phí bất hợp lý ra khỏi giá thành và phí lưu thông nhằm tăng thu cho ngân sách.
Tăng cường quản lý các Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân, có biện pháp xử lý nghiêm đối với những đơn vị có đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký kê khai nộp thuế với cơ quan thuế; kiểm tra để truy thu thuế, phạt trốn lậu thuế hoặc dây dưa không nộp thuế, rút giấy phép kinh doanh.
5. Giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Cục Thuế xem xét, đề xuất giao ủy nhiệm một số khoản thu cho chính quyền cấp xã.