Điều 12. Chi xây dựng cơ bản.
1. Nguồn vốn chi xây dựng cơ bản:
a) Nguồn vốn chi xây dựng cơ bản của ngân sách tỉnh:
- Vốn đầu tư phát triển tập trung do Nhà nước phân bổ từ ngân sách Trung ương (cả vốn trong nước và vốn ngoài nước);
- Thuế XNK, thuế TTĐB hàng nhập khẩu năm 2003 được để lại theo Quyết định 197/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
- Số thu từ khai thác Quỹ đất đối với các lô đất tỉnh quy hoạch để giao hoặc cho thuê tạo nguồn vốn đầu tư xây dựng những công trình quan trọng của tỉnh;
- Vốn đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia và đầu tư các dự án lớn;
- Huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;
- Viện trợ không hoàn lại, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh để đầu tư xây dựng cơ bản;
- Các khoản vay để đầu tư theo quy định tại khoản 3, điều 8 của Luật Ngân sách Nhà nước;
- Các nguồn vốn khác (nếu có) theo chế độ quy định.
b) Nguồn vốn chi xây dựng cơ bản của ngân sách cấp huyện:
- 60% tiền thu cấp quyền sử dụng đất (trừ những lô đất tỉnh quy hoạch tạo nguồn vốn đầu tư, xây dựng những công trình quan trọng của tỉnh);
- 30% tiền thu từ hoạt động xổ số kiến thiết do cấp huyện thực hiện được để lại đầu tư các công trình phúc lợi;
- Hỗ trợ đầu tư XDCB từ ngân sách cấp trên;
- Viện trợ không hoàn lại, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện để đầu tư xây dựng cơ bản;
- Các nguồn vốn khác (nếu có) theo chế độ quy định.
c) Nguồn vốn chỉ xây dựng cơ bản của ngân sách cấp xã:
- 30%tiền thu cấp quyền sử dụng đất (trừ những lô đất tỉnh quy hoạch tạo nguồn vốn đầu tư, xây dựng những công trình quan trọng của tỉnh);
- 70% tiền thu từ hoạt động xổ số kiến thiết do cấp xã thực hiện (phát sinh trên địa bàn xã, phường, thị trấn) được để lại đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của xã;
- Hỗ trợ đầu tư XDCB từ ngân sách cấp trên;
- Thu từ kinh doanh vận tải và xây dựng nhà ở tư nhân;
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp (nếu có);
- Viện trợ không hoàn lại, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp xã để đầu tư xây dựng cơ bản;
- Các nguồn vốn khác (nếu có) theo chế độ quy định.
Vốn đầu tư XDCB của cấp huyện và cấp xã, phần được để lại theo phân cấp quản lý của UBND tỉnh phải ưu tiên bố trí thực hiện chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, kiên cố hoá kênh mương thuỷ lợi (kể cả phần để trả nợ tiền vay và kiên cố hoá kênh mương), làm giao thông nông thôn và ưu tiên trả nợ khối lượng XDCB trong kế hoạch đã hoàn thành của huyện và xã.
2. Quản lý và quyết toán vốn đầu tư XDCB:
Tất cả các dự án đầu tư đều phải thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định tại Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999, Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 và Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngay 30/1/2003 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng; Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999, Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 và Nghị định số 66/2003/NĐ- CP ngày 12/6/2003 của Chính phủ ban hành quy chế đấu thầu và các văn bản quy định thực hiện quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư XDCB thực hiện theo Thông tư số 44/2003/TT-BTC ngày 15/05/2003 của Bộ Tài chính.
Tất cả các dự án đầu tư của các cơ quan Nhà nước và các DNNN sau khi hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quyết toán vốn đầu tư. Việc quyết toán vốn đầu tư phải đảm bảo nội dung, thời gian lập, thẩm tra và phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 45/2003/TT-BTC ngày 15/05/2003 của Bộ Tài chính.
Các chủ đầu tư (Ban quản lý dự án) chậm nhất sau thời gian 3 tháng kể từ khi công trình hoàn thành nếu không lập báo cáo quyết toán gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm tra phê duyệt quyết toán thì Trưởng ban, kế toán trưởng Ban quản lý dự án s'ẽ bị tạm thòi đình chỉ mọi công tác để tập trung vào quyết toán công trình và chỉ được bố trí lại công việc sau khi công trình đã được cấp có thẩm quyền thẩm tra phê duyệt quyết toán, sở Tài chính, Phòng Tài chính-Kế hoạch các huyện, thành phố, thị xã là cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán phải thực hiện nghiêm túc thời gian quy định tại Thông tư số 45/2003/TT- BTC. Đối với những công trình, dự án thời gian thẩm tra phê duyệt vượt so với quy định do lỗi của Chủ đầu tư mà không có lý do chính đáng, tỉnh sẽ không bố trí vốn trả nợ (nếu thiếu) và không ghi kế hoạch tiếp cho các hạng mục tiếp theo (nếu dự án đó còn có hạng mục công trình chưa ghi kế hoạch). Đồng thời trừ điểm thi đua khen thưởng đối với tập thể, cá nhân các ban quản lý dự án, các Chủ đầu tư, UBND các huyện, thành phố, thị xã, các Sở, Ban, Ngành có nhiều dự án tồn đọng và chậm quyết toán.
Các đơn vị thi công phải phối hợp với các chủ đầu tư trong việc quyết toán các dự án theo đúng thời hạn quy định. Những công trình đã đưa vào sử dụng sau 3 tháng trở lên nếu các nhà thầu không chịu làm thủ tục quyết toán với Chủ đầu tư thì UBND tỉnh sẽ không cho đơn vị tham gia đấu thầu những công trình tiếp theo.
3. Các dự án đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài trong kế hoạch năm 2004 sẽ được bố trí vốn đối ứng ngay từ đầu năm. Nghiêm cấm mọi trường hợp triển khai thực hiện các dự án đối ngoại khi chưa có bố trí cân đối được nguồn vốn đối ứng cho công trình.
4. Tăng cường phân cấp quản lý đầu tư XDCB cho cấp huyện, cấp xã theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản của Chính phủ. Các cấp, các ngành phải thực hiện tốt các quyết định của UBND tỉnh về phân cấp, ủy quyền trong quản lý đầu tư và xây dựng, theo Quyết định số 115/2001/QĐ- UB ngày 29/11/2001 "về việc ban hành một số quy định về quản lý đầu tư và xây dựng các công trình thuộc chương trình 135".
Việc quản lý, kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư thuộc ngân sách cấp huyện thực hiện theo Thông tư số 44/2003/TT-BTC ngày 15/ 05/2003 của Bộ Tài chính; thuộc ngân sách xã thực hiện theo Thông tư số 60/2003 ngày 23/6/2003 và Thông tư số 106/2003/TT-BTC ngày 7/11/2003 của Bộ Tài chính.
5. Sở Tài chính, Phòng Tài chính-Kế hoạch các huyện, thành phố, thị xã hàng quý tập hợp báo cáo thuế giá trị gia tăng được quyết toán trong giá trị công trình (hạng mục công trình) gửi cơ quan Thuế để phối hợp kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các nhà thầu xây lắp, thầu cung ứng thiết bị và các tổ chức tư vấn.
6. Hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp:
Năm 2004 tiếp tục thực hiện cơ chế hỗ trợ vốn lưu động cho DNNN. Giao Sở Tài chính căn cứ vào kinh phí được bố trí trong dự toán ngân sách và nhu cầu bổ sung vốn lưu động của các đơn vị, lập phương án trình UBND tỉnh xem xét và quyết định.
Khoản chi hỗ trợ lãi suất sau đầu tư do Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển chi trả theo kế hoạch đã được phê duyệt và chế độ quy định.