Điều 14. Chi sự nghiệp kinh tế
1. Đối với cấp huyện:
Các khoản chi sự nghiệp kinh tế, kiến thiết thị chính thuộc các huyện, thành phố, thị xã quản lý là nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện và được bố trí trong dự toán ngân sách huyện. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện có trách nhiệm phân bổ chi tiết dự toán chi theo từng nội dung và Mục lục Ngân sách Nhà nước báo cáo UBND cấp huyện xem xét để trình HĐND cấp huyện quyết định.
2. Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn, thủy sản, chính sách trự giá, trợ cước:
Chính sách liên quan đến ngành nào giao ngành đó chủ trì phối hợp với Sở Tài chính rà soát lại để bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi trình UBND tỉnh ban hành các quyết định mới, hạn chế tối đa số lượng quyết định về chính sách của một lĩnh vực.
Giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các ngành liên quan cân đối ngân sách, trình UBND tỉnh phê duyệt, phân bổ và thông báo cho các đơn vị, các ngành, các huyện được thụ hưởng. Đồng thời có hướng dẫn cụ thể để thực hiện.
3. Kinh phí trự giá báo và các ấn phẩm của cơ quan Đảng:
Bao gồm: bù lỗ giá thành báo Nghệ An, trợ giá xuất bản tờ tin nội bộ, sách chính trị và khoa học kỹ thuật, bản tin khoa học và ứng dụng; kinh phí cấp báo Nhân dân, báo Nghệ An mỗi loại mỗi số đến các chi bộ nông thôn vùng núi, vùng giáo, chi bộ nông thôn của các xã ven biển có nhiều khó khăn thực hiện theo Quyết định số 722/QĐ-TU ngày 13/ 3/1998 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và cấp báo cho các đồng chí Thường vụ Tỉnh ủy đã nghỉ hưu theo thông báo số 59/TB-TU ngày 7/4/2003 của Tỉnh ủy.
Sở Tài chính phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy căn cứ vào số lượng đối tượng được hưởng, giá thành các ấn phẩm đã được phê duyệt để phân bổ kinh phí.
4. Cơ chế điều hành các khoản chi sự nghiệp kinh tế khác thuộc cấp tỉnh:
a) Kinh phí xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm:
Sau khi dự án xoá đói giảm nghèo được UBND tỉnh phê duyệt, tùy theo tiến độ triển khai, Sở Tài chính chuyển kinh phí qua Ngân hàng chính sách xã hội để cho vay. Ngân hàng chính sách xã hội có trách nhiệm cho vay theo các dự án được duyệt, đồng thời đôn đốc thu hồi các khoản cho vay đã đến hạn trả, cùng với kinh phí ngân sách trích hàng năm tạo nên quỹ xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm của tỉnh để cho vay luân chuyển.
b) Kinh phí bù lỗ doanh nghiệp công ích:
Căn cứ vào dự toán chi ngân sách được
HĐND tỉnh thông qua, căn cứ vào dự toán thu chi của các doanh nghiệp công ích được duyệt, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và đầu tư cùng các ngành có liên quan lập kế hoạch phân bổ kinh phí cấp bù lỗ chi tiết cho từng đơn vị trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định.
Hàng tháng, căn cứ vào kế hoạch cấp bù được duyệt của UBND tỉnh và tiến độ thực hiện kế hoạch, Sở Tài chính chuyển kinh phí đến các đơn vị. Sau khi kết thúc năm, các DNNN hoạt động công ích được hưởng khoản kinh phí cấp bù có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh doanh với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và đầu tư và ngành quản lý.
c) Kinh phí sự nghiệp giao thông (thuộc ngân sách địa phương)
Trên cơ sở dự toán ngân sách được HĐND tỉnh thông qua và quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh về bố trí ngân sách cho sự nghiệp giao thông, giao Sở Giao thông vận tải chủ trì phối hợp với Sở Tài chính phân khai cụ thể theo nội dung và chi tiết theo Mục lục ngân sách Nhà nước (kể cả vốn hỗ trợ giao thông nông thôn miền núi). Riêng sửa chữa lớn, sửa chữa vừa thì phải thực hiện đúng chế độ quản lý cấp phát vốn sự nghiệp kinh tế có tính chất XDCB.
d) Chi khuyến nông, khuyến lâm và khuyến ngư:
Thực hiện Quyết định số 50/2001/QĐ-UB ngày 25/9/2001 của UBND tỉnh về chính sách hỗ trợ, phát triển công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, Sở Tài chính cân đối phụ cấp cho cán bộ khuyến nông xã vào ngân sách huyện. Trung tâm khuyến nông huyện tiếp nhận và trực tiếp chi trả cho cán bộ khuyến nông xã. Phụ cấp cán bộ khuyến nông xóm bản do ngân sách xã chi trả. Riêng kinh phí bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ khuyến nông và người lao động nông nghiệp từ 35 tuổi đến dưới 50 tuổi, căn cứ vào chương trình và số lượng học viên từng lớp học, Sở Tài chính thông báo kinh phí từ nguồn đào tạo lại cán bộ cơ sở cho Trung tâm khuyến nông, khuyến lâm và Trung tâm khuyến ngư tỉnh (phân cấp tỉnh thực hiện) để tổ chức lớp học. Phần đào tạo cấp huyện được cân đối qua ngân sách huyện để cấp cho trạm khuyến nông huyện, thành, thị.
e) Chi khuyến công:
Chi khuyến công thực hiện theo Quyết định số 36/2002/QĐ-UB ngày 01/4/2002 của UBND tỉnh về việc ban hành quy chế quản lý, sử dụng quỹ hỗ trợ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
f) Chi khuyến khích xuất khẩu:
Chi khuyến khích xuất khẩu cho các doanh nghiệp theo Quyết định số 25/2001/QĐ-UB ngày 26/3/2001 của UBND tỉnh và Quyết định số 57/2002/QĐ-UB ngày 17/6/2002 sửa đổi, bổ sung Quyết định 25/2001/QĐ-UB. Giao Sở Thương mại chủ trì phối hợp với Sở Tài chính hướng dẫn cụ thể để thực hiện.