Điều 20. Thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành đối với quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hoà giải thành của mình đã có hiệu lực pháp luật, kể cả trường hợp quyết định bị khiếu nại và đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết công nhận hoặc đã được Toà án giải quyết công nhận.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành đối với quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hoà giải thành của mình đã có hiệu lực pháp luật, kể cả trường hợp quyết định bị khiếu nại và đã được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết công nhận hoặc đã được Toà án giải quyết công nhận.
3. Người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế quy định tại khoản 1, 2 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế.
Việc giao quyền ban hành quyết định cưỡng chế được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc và phải thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền.
Cấp phó được giao quyền ban hành quyết định cưỡng chế phải chịu trách nhiệm về việc ban hành quyết định cưỡng chế của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền cho bất cứ người nào khác.