Điều 16. Kết thúc việc thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hoà giải thành có hiệu lực pháp luật
1. Việc thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hoà giải thành có hiệu lực pháp luật kết thúc khi cơ quan, tổ chức, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành quyết định thực hiện xong nội dung nêu trong quyết định và được thể hiện bằng biên bản thi hành xong quyết định (có xác nhận của đại diện chính quyền địa phương).
2. Trường hợp đến hết thời hạn tự nguyện thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hoà giải thành có hiệu lực pháp luật mà các bên tranh chấp, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vẫn không tự nguyện chấp hành thì cơ quan, tổ chức, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành quyết định lập biên bản về việc thi hành quyết định không thành (có xác nhận của đại diện chính quyền địa phương).
3. Trong quá trình triển khai quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hoà giải thành có hiệu lực pháp luật, nếu các bên tranh chấp tự thoả thuận được, mà việc thoả thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội hoặc bên phải thi hành quyết định tự nguyện giao trả diện tích đất tranh chấp, thì cơ quan, tổ chức, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành quyết định phải tổ chức đo đạc, cắm mốc, lập biên bản bàn giao cụ thể trên thực địa diện tích đất tranh chấp cho người được công nhận quyền sử dụng đất (có sự chứng kiến, xác nhận của đại diện chính quyền địa phương). Biên bản bàn giao đất trên thực địa phải được gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp và được lưu giữ trong hồ sơ giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định.
4. Cơ quan, tổ chức, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hoà giải thành có hiệu lực pháp luật có trách nhiệm báo cáo với người giải quyết tranh chấp đất đai về quá trình, kết quả vận động, thuyết phục các bên tranh chấp tự nguyện thi hành quyết định.