Điều 5. Huy động vốn để đầu tư phát triển
a) Tăng cường huy động nội lực : Các giải pháp huy động vốn chính sau đây :
1. Đa dạng các hình thức và công cụ huy động vốn, xã hội hóa mạnh trong huy động nguồn đầu tư. Có chế độ ưu đãi đặc biệt để kêu gọi tất cả các thành phần kinh tế mạnh dạn đầu tư các dự án không sử dụng nguồn vốn Nhà nước, khuyến khích đầu tư theo hình thức BOT, đầu tư 100% vốn ngoài tỉnh.
2. Thực hiện cổ phần hóa một số DNNN đủ điều kiện được lựa chọn tạo ra quỹ cổ phần hóa của tỉnh để làm nguồn vốn đầu tư chiều sâu các doanh nghiệp hoặc cho vay trả nợ cam kết đến hạn.
3. Thực hiện bán khoán vườn cây kinh doanh cho các hộ nông trường viên; cho thuê đất trống, đất rừng ; thanh lý bán gỗ một số vườn cây công nghiệp để có nguồn trồng diện tích mới. Bán hoặc cho các tổ chức kinh tế tư nhân, công ty TNHH thuê cơ sở sản xuất công nghiệp kém hiệu quả... tăng thêm vốn để đầu tư các dự án mói và tăng vốn lưu động cho các doanh nghiệp.
Giao Chủ tịch UBND huyện, Thành phố Vinh, Thị xã Cửa Lò rà soát quy hoạch đất đai đô thị, các thị trấn và ven các trục đường chính... quy vùng dân cư, đề xuất UBND tỉnh quyết định giá đất hợp lý và thủ tục đơn giản nhất để giải quyết đất ở cho dân và cho các doanh nghiệp thuê xây dựng nhà xưởng sản xuất. Giành một số lô đất riêng để giao và cho thuê tạo nguồn ngân sách tỉnh đầu tư các công trình bức xúc.
Nguồn tiền thu cấp quyền sử dụng đất là nguồn vốn ngân sách đầu tư XDCB quan trọng của huyện (thành, thị) phải nộp 100% vào Kho bạc Nhà nước và được thực hiện cơ chế phân bổ như sau
+ Giành 10% cho ngân sách tỉnh để làm công tác quy hoạch địa chính và quỹ hoạch đô thị.
+ 50% cho ngân sách huyện và 40% cho ngân sách xã, thị trấn thuộc huyện.
+ 60% cho ngân sách thành phố, thị xã và 30% cho ngân sách phường, xã thuộc thành phố, thị xã.
Đối với các lô đất giành riêng để giao hoặc cho thuê tạo nguồn vốn đầu tư xây dựng các công trình bức xúc của tỉnh thì trích giải quyết cho ngân sách phường, xã 10%, còn 90% là của ngân sách tỉnh (trong đó có 10% quỹ địa chính và quy hoạch đô thị).
5. Mở rộng các hình thức huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn và đô thị (điện, đường, trường, trạm, kênh mương...) thông qua việc huy động đóng góp ngày công, nguyên vật liệu... của công dân trong độ tuổi lao động (trừ học sinh và các đối tượng chính sách được miễn giảm). Phân công nhiệm vụ cho các tổ chức kinh tế - xã hội đóng trên địa bàn nghĩa vụ đóng góp xây dựng cơ sở công ích. Thực hiện nghĩa vụ lao động công ích theo quy định hiện hành. Huy động xây dựng trường học theo quy định tại Quyết định 1244/1999/QĐ-UB ngày 10-10-1999 của UBND tỉnh.
Việc tổ chức huy động các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng các xã, thị trấn phải trên cơ sở quyết định của HĐND cấp xã, đa số nhân dân đồng tình và dân chủ công khai theo quy chế ban hành kèm theo Nghị định 24/1999/CP ngày 16-4-1999 của Chính phủ.
6/ Thực hiện triệt để tiết kiệm trong đầu tư và xây dựng, tiếp tục thực hiện việc tiết kiệm 5% vốn xây lắp và kiến thiết cơ bản khác (trừ tiền đền bù) đối với công trình chỉ định thầu. Nghiêm chỉnh thực hiện đấu thầu đối với tất cả các công trình theo quy chế đã ban hành của Nghị định 88/1999/CP ngày 01-9-1999 của Chính phủ.
b) Huy động vốn từ bên ngoài :
1. Kêu gọi các tổ chức trong và ngoài nước đầu tư vào tỉnh ta, khuyên khích hình thức 100% vốn bên ngoài. Tạo thuận lợi về thủ tục, môi trường xã hội... thực sự ưu đãi hấp dẫn và an toàn cho các chủ đầu tư. Vận dụng hợp lý dành một phần ngân sách hỗ trợ các doanh nghiệp trả nợ vay nựớc ngoài đến hạn phải trả mà tỉnh đã có cam kết.
Giao Giám đốc các Sở quản lý chuyên ngành và Chủ tịch UBND các huyện (thành, thị) có trách nhiệm đôn đốc chỉ đạo đơn vị mình tìm nguồn và tổ chức vận động thực hiện dự án gọi vốn nước ngoài.
2. Tiếp tục dành một phần ngân sách để làm công tác vận động thực hiện dự án và bố trí vốn đối ứng ngay từ đầu năm cho các dự án ODA đã ghi kế hoạch năm 2000 và hỗ trợ các doanh nghiệp đảm bảo tỷ lệ góp vốn đã cam kết trong liên doanh, thúc đẩy các dự án FDI triển khai đúng tiến độ xây dựng. Khuyến khích khen thưởng thích đáng các ngành, các thành phần kinh tế, các tổ chức gọi được vốn ODA và đối tác đầu tư FDI.