Điều 21. Lập hồ sơ
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Công an cấp huyện, cơ quan Công an tỉnh (sau đây gọi là cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ) khi phát hiện người sử dụng trái phép chất ma túy thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng theo quy định.
2. Trường hợp người vi phạm có nơi cư trú ổn định không thuộc xã, phường, thị trấn nơi xảy ra vi phạm, thì Trưởng Công an cấp xã đã lập biên bản vi phạm bản giao người và biên bản vi phạm cho cơ quan Công an cấp xã nơi người vi phạm cư trú ổn định để tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Trưởng Công an cấp xã đã lập biên bản người vi phạm báo cáo, đề nghị Công an cấp huyện hỗ trợ lực lượng để bàn giao người và hồ sơ cho Công an xã nơi người vi phạm cư trú ổn định. Việc bàn giao phải được lập thành biên bản, mỗi bên giữ một bản. Ngay sau khi tiếp nhận người và Biên bản vi phạm nơi khác chuyển đến, Trưởng Công an cấp xã đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã cùng cấp ra quyết định giao đối tượng cho gia đình quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Thành phần hồ sơ đề nghị đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định hoặc không có nơi cư trú ổn định thực hiện theo quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây viết tắt là Nghị định số 136/2016/NĐ-CP).
4. Thời gian lập hồ sơ
a) Đối với người vi phạm có nơi cư trú ổn định là 10 (mười) ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hoặc ngày nhận được phiếu xét nghiệm có kết quả dương tính với chất ma túy hoặc ngày nhận được Quyết định chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc ngày nhận được người và biên bản vi phạm do nơi khác chuyển đến theo khoản 2 Điều này. Trường hợp cần thu thập thông tin thêm thì tối đa là 15 (mười lăm) ngày làm việc.
b) Đối với người vi phạm không có nơi cư trú ổn định là 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện của cơ quan y tế. Trường hợp cần thu thập thông tin thêm thì tối đa là 15 (mười lăm) ngày làm việc.