Điều 33. Trường hợp cho phép được chậm nộp tiền sử dụng đất tái định cư.
1. Đối với các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bố trí đất tái định cư theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 30 của Quy định này có hoàn cảnh khó khăn, sau khi được tính hỗ trợ suất tái định cư tối thiểu theo quy định tại Khoản 7 Điều 30 của Quy định này mà vẫn không có tiền để nộp tiền sử dụng đất tái định cư (được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận) và có nguyện vọng ghi nợ thì được nộp chậm trong thời gian tối đa là 05 năm. Quá thời hạn thì tiền sử dụng đất còn nợ được tính theo giá đất do UBND tỉnh công bố hàng năm tại thời điểm trả nợ tiền sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân được cho phép chậm nộp tiền sử dụng đất tái định cư theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì trên giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất được ghi rõ (đóng dấu) “Nợ tiền sử dụng đất”. Trong thời gian còn nợ tiền sử dụng đất, người sử dụng đất không được chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất.