Điều 11. Bồi thường về đất đối với thửa đất có vườn, ao và nhà ở trong cùng thửa đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất.
1. Thửa đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
a. Đối với thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18/12/1980:
- Bồi thường toàn bộ diện tích theo giá đất ở đối với thửa đất mà trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định có ghi rõ diện tích đất ở hoặc ghi rõ ranh giới thửa đất ở hoặc đất thổ cư.
- Bồi thường bằng năm (05) lần hạn mức giao đất ở theo giá đất ở đối với trường hợp trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định không ghi rõ diện tích đất ở hoặc không ghi rõ ranh giới thửa đất ở hoặc đất thổ cư nhưng không vượt quá diện tích thửa đất bị thu hồi.
b. Đối với thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004:
- Bồi thường bằng diện tích đất ở ghi trong giấy tờ về quyền sử dụng đất theo giá đất ở nếu trong giấy tờ về quyền sử dụng đất ghi rõ diện tích đất ở.
- Trường hợp giấy tờ về quyền sử dụng đất không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất được bồi thường theo giá đất ở bằng hạn mức công nhận đất ở nhưng không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.
c. Đối với thửa đất ở có vườn, ao được sử dụng ổn định từ 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 có diện tích xây dựng thực tế lớn hơn diện tích đất ở ghi trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở, phần diện tích xây dựng thực tế lớn hơn được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận tại thời điểm xây dựng không vi phạm Khoản 4, Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP thì được bồi thường, hỗ trợ như sau:
- Trường hợp phần diện tích đất xây dựng thực tế lớn hơn trước ngày 15/10/1993 thì diện tích đất được bồi thường theo giá đất ở được xác định cho toàn bộ diện tích đất thực tế xây dựng về nhà ở, các công trình phục vụ sinh hoạt như bếp, sân có khuôn viên, diện tích giếng, nhà tắm, chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhà kho bị thu hồi.
- Trường hợp phần diện tích đất xây dựng thực tế lớn hơn từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì xác định diện tích đất bồi thường theo giá đất ở theo quy định như trên, phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất ở phải nộp theo quy định của Nhà nước đối với phần chênh lệch giữa diện tích thực tế xây dựng theo xác định như trên với diện tích theo hạn mức công nhận đất ở.
d. Đối với đất của các hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trong cùng thửa đất có vườn ao trước ngày Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ có hiệu lực thi hành thì phần diện tích đất được bồi thường theo giá đất ở được xác định lại theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 45 Nghị định 181/2004/NĐ-CP.
2. Phần diện tích đất bị thu hồi còn lại (nếu có) của thửa đất ở có vườn, ao có giấy tờ về quyền sử dụng đất sau khi trừ đi phần diện tích đất được bồi thường theo giá đất ở quy định tại Khoản 1 Điều này thì được bồi thường, hỗ trợ theo đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở.