Điều 12. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở.
1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư còn được hỗ trợ bằng 50% giá đất ở của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ bằng 05 lần hạn mức giao đất ở nhưng không quá diện tích đất bị thu hồi.
2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ như sau:
a. Hỗ trợ 40% giá đất ở liền kề đối với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối.
b. Hỗ trợ 20% giá đất ở liền kề đối với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là đất trồng rừng sản xuất.
Tổng diện tích đất được hỗ trợ theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều này bằng 05 lần hạn mức giao đất ở nhưng không quá diện tích đất bị thu hồi và được tính theo thứ tự ưu tiên từ loại đất có tỷ lệ hỗ trợ cao đến loại đất có tỷ lệ hỗ trợ thấp.
Ranh giới của khu dân cư theo quy định tại Khoản 2 Điều này được xác định trên bản đồ quy hoạch khu dân cư hoặc bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết của xã, thị trấn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; trường hợp chưa có quy hoạch khu dân cư, quy hoạch sử dụng đất chi tiết của xã, thị trấn được phê duyệt thì thửa đất nông nghiệp được hỗ trợ là thửa đất tiếp giáp với thửa đất có nhà ở hợp pháp (có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai).
3. Đơn giá đất ở liền kề để tính hỗ trợ theo quy định tại Khoản 2 Điều này là đơn giá đất trung bình cộng của các thửa đất ở liền kề; trường hợp các thửa đất liền kề không phải là đất ở thì đơn giá đất ở được tính hỗ trợ là đơn giá đất ở trung bình cộng của các thửa đất có nhà ở gần nhất.
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án có trách nhiệm xác định đơn giá đất ở liền kề cho phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định của Nhà nước trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường quyết định để hỗ trợ cho các hộ gia đình và cá nhân bị thu hồi đất.
4. Trường hợp được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà thấp hơn hỗ trợ tự chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo quy định tại Điều 28 của Quy định này thì được hỗ trợ bằng mức hỗ trợ tự chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm.