Điều 12. Xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo; xác định văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản dự kiến sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ.
1. Xây dựng dự thảo phải được thực hiện theo trình tự sau:
a) Hình thành ý tưởng chính của văn bản bao gồm: tên gọi, đối tượng, phạm vi, mục đích điều chỉnh của văn bản.
b) Chuẩn bị đề cương sơ bộ của văn bản: nêu ra những ý tưởng chính cần được thể hiện trong dự thảo và dự kiến sơ lược bố cục của dự thảo.
c) Xây dựng đề cương chi tiết của dự thảo: dự kiến một cách cụ thể bố cục của văn bản, xác định nội dung khái quát của từng chương, mục, điều trong văn bản.
Đề cương chi tiết phải được thảo luận tập thể, được chỉnh lý theo ý kiến đóng góp và bắt buộc phải được Tổ soạn thảo (nếu có) thông qua.
d) Viết dự thảo
2. Xác định văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản dự kiến sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ
Tại điều khoản thi hành, người được phân công viết dự thảo phải xác định rõ các văn bản, quy định của văn bản hết hiệu lực do bị huỷ bỏ, bãi bỏ, thay thế hay các quy định cần được sửa đổi, bổ sung khi văn bản đang soạn thảo có hiệu lực.
3. Xây dựng dự thảo tờ trình
Tờ trình phải có các nội dung chính sau: sự cần thiết của việc ban hành văn bản; khái quát về quá trình xây dựng văn bản; nội dung chính của văn bản; những vấn đề còn ý kiến khác nhau cần xin ý kiến của Ủy ban nhân dân.