Điều 21. Chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương trên địa bàn tỉnh phải thực hiện chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý gửi Công an tỉnh để tổng hợp, tham mưu ủy ban nhân dân tỉnh gửi Bộ Công an báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo thời hạn như sau:
- Báo cáo sơ kết một năm một lần; báo cáo tổng kết năm năm một lần;
- Báo cáo đột xuất được thực hiện ngay sau khi phát hiện vụ lộ, mất bí mật nhà nước hoặc theo đề nghị của Công an tỉnh;
- Thời hạn chốt số liệu trong chế độ báo cáo hằng năm: Tính từ ngày 15 tháng 11 năm trước kỳ báo cáo đến ngày 14 tháng 11 của kỳ báo cáo;
- Thời hạn gửi báo cáo hàng năm: Thời hạn cơ quan, tổ chức gửi báo cáo định kỳ hằng năm cho Công an tỉnh chậm nhất vào ngày 03 tháng 12 của năm báo cáo.
- Nội dung báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
- Phân tích, đánh giá tình hình liên quan đến công tác bảo vệ bí mật nhà nước;
- Kết quả thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước; ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo, thực hiện;
- Tình hình, số liệu các vụ lộ, mất bí mật nhà nước; nguyên nhân và việc xử lý, khắc phục hậu quả;
- Dự báo tình hình; dự kiến công tác trọng tâm bảo vệ bí mật nhà nước và đề xuất, kiến nghị.
- Công an tỉnh có trách nhiệm phục vụ ủy ban nhân dân tỉnh tổng hợp báo cáo sơ kết 01 năm, báo cáo tổng kết 05 năm về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh theo quy định.
Chưoìig III
TRÁCH NHIÊM CỦA cơ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG
CỒNG TÁC BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC