Điều 17. Điều khoản chuyển tiếp
1. Quy định chuyển tiếp về tiền bồi thường giải phóng mặt bằng hoàn trả
a) Người sử dụng đất đã được Nhà nước cho thuê đất trước thời điểm Nghị quyết này có hiệu lực thi hành và thuộc đối tượng phải hoàn trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng cho Nhà nước theo các cơ chế, chính sách áp dụng đối với khu công nghệ cao ban hành trước thời điểm Nghị quyết này có hiệu lực thi hành mà chưa thực hiện việc hoàn trả do chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thông báo số tiền phải nộp thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị quyết này. Trong đó, trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì việc quy đổi số tiền bồi thường giải phóng mặt bằng hoàn trả thành thời gian hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất hàng năm được căn cứ theo đơn giá cho thuê đất hàng năm được xác định theo Hợp đồng cho thuê đất. Ban Quản lý xác định, thông báo các nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất và tiền bồi thường giải phóng mặt bằng hoàn trả đối với người sử dụng đất quy định tại điểm này.
b) Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất miễn toàn bộ tiền thuê đất trong cả thời hạn thuê trước thời điểm Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì không phải hoàn trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng cho Nhà nước.
c) Người sử dụng đất thuộc đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất, thuê đất miễn tiền thuê đất cho cả thời hạn thuê và đã sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì không phải hoàn trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng cho Nhà nước.
d) Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng đã được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 05 tháng 8 năm 2017 để xây dựng kết cấu hạ tầng và cho nhà đầu tư thuê lại đất đã có hạ tầng thì không phải hoàn trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng cho Nhà nước.
2. Quy định chuyển tiếp về tiền sử dụng hạ tầng đối với các công trình do Nhà nước đầu tư và tiền xử lý nước thải
a) Nhà đầu tư thuộc đối tượng phải nộp tiền sử dụng hạ tầng đối với các công trình do Nhà nước đầu tư và tiền xử lý nước thải nhưng chưa hoàn thành việc nộp tiền theo các Thông báo của Ban Quản lý ban hành trước thời điểm Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì phải nộp đủ số tiền còn thiếu vào ngân sách Nhà nước theo Thông báo và một khoản tiền tương đương tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
b) Nhà đầu tư là cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập chưa hoàn thành việc nộp tiền sử dụng hạ tầng theo các Thông báo của Ban Quản lý ban hành trước thời điểm Nghị quyết này có hiệu lực thi hành nhưng thuộc đối tượng được miễn toàn bộ tiền sử dụng hạ tầng đối với các công trình do Nhà nước đầu tư theo Nghị quyết này thì không phải nộp tiền sử dụng hạ tầng theo các Thông báo đã ban hành.
3. Quy định chuyển tiếp về tiền sử dụng hạ tầng đối với các công trình do chủ đầu tư hạ tầng đầu tư
a) Trường hợp chủ đầu tư hạ tầng đã ban hành mức thu tiền sử dụng hạ tầng trên cơ sở ý kiến tạm chấp thuận của Ban Quản lý, trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, chủ đầu tư hạ tầng có trách nhiệm rà soát, cập nhật lại hồ sơ đề xuất mức thu tiền sử dụng hạ tầng theo Nghị quyết này để trình Ban Quản lý có ý kiến chấp thuận.
b) Đối với các hợp đồng thuê hạ tầng kỹ thuật đã ký kết giữa chủ đầu tư hạ tầng và nhà đầu tư trước thời điểm Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, trong đó đã xác định tiền sử dụng hạ tầng mà nhà đầu tư phải nộp cho chủ đầu tư hạ tầng thì các bên tiếp tục thực hiện theo hợp đồng đã ký. Trường hợp cần thiết, chủ đầu hạ tầng và nhà đầu tư thương thảo lại mức thu trên nguyên tắc bảo đảm hài hòa quyền lợi của các bên.
Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội khoá XVI, kỳ họp thứ 20 thông qua ngày 10 tháng 12 năm 2024 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025./.