Điều 7. Trình tự, thủ tục Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, trình Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thuộc các trường hợp sau đây:
a) Khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
b) Theo kiến nghị của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội;
c) Theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
2. Khi nhận được đề nghị, kiến nghị quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 10 của Nghị quyết này.
Đề nghị, kiến nghị quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này được Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra theo quy định tại Điều 11 của Nghị quyết này.
3. Hồ sơ trình Quốc hội bao gồm:
a) Tờ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Đề nghị, kiến nghị thuộc trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này;
c) Báo cáo giải trình của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
d) Báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội đối với đề nghị, kiến nghị quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này;
đ) Dự thảo nghị quyết về việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật.
Cơ quan chủ trì thẩm tra hoặc cơ quan khác được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phân công có trách nhiệm giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội xây dựng dự thảo nghị quyết.