Điều 10. Trình tự, thủ tục Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật quy định tại các khoản 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc các trường hợp sau đây:
a) Khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Theo kiến nghị của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội;
c) Theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
2. Hồ sơ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét đề nghị, kiến nghị theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này được Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra theo quy định tại Điều 11 của Nghị quyết này.
3. Hồ sơ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội bao gồm:
a) Đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Báo cáo giải trình của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
c) Báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội đối với đề nghị, kiến nghị quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này;
d) Dự thảo nghị quyết về việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật.
Cơ quan chủ trì thẩm tra hoặc cơ quan khác được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phân công có trách nhiệm xây dựng dự thảo nghị quyết.
4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo trình tự sau đây:
a) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị, kiến nghị trình bày;
b) Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra đối với đề nghị, kiến nghị quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này;
c) Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận;
d) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên họp phát biểu ý kiến (nếu có);
đ) Người đứng đầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản báo cáo, giải trình về vấn đề có liên quan;
e) Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết về việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật.
Nội dung nghị quyết phải xác định văn bản quy phạm pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trường hợp văn bản trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì quyết định đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản tại kỳ họp gần nhất; trường hợp văn bản trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó; kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm.