Điều 19. Trình tự, thủ tục Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
1. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét văn bản quy phạm pháp luật quy định tại các khoản 11, 12 và 14 Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 15 Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 1 Điều này trong các trường hợp sau đây:
a) Khi Thường trực Hội đồng nhân dân tự mình phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
b) Theo đề nghị của đại biểu Quốc hội;
c) Theo kiến nghị của Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp;
d) Theo đề nghị của Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
3. Ngoài trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo đề nghị của Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương.
4. Hồ sơ trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét đề nghị, kiến nghị quy định tại các điểm b, c, d khoản 2 và khoản 3 Điều này được Ban của Hội đồng nhân dân thẩm tra theo quy định tại Điều 20 của Nghị quyết này.
5. Hồ sơ trình Thường trực Hội đồng nhân dân bao gồm:
a) Đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình;
b) Báo cáo giải trình của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình;
c) Báo cáo thẩm tra của Ban của Hội đồng nhân dân đối với đề nghị, kiến nghị quy định tại các điểm b, c, d khoản 2 và khoản 3 Điều này;
d) Dự thảo kết luận về xem xét văn bản quy phạm pháp luật.
Cơ quan chủ trì thẩm tra hoặc cơ quan khác được Thường trực Hội đồng nhân dân phân công có trách nhiệm xây dựng dự thảo kết luận.
6. Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này theo trình tự sau đây:
a) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị, kiến nghị trình bày;
b) Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân trình bày báo cáo thẩm tra đối với đề nghị, kiến nghị quy định tại các điểm b, c, d khoản 2 và khoản 3 Điều này;
c) Thường trực Hội đồng nhân dân thảo luận;
d) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên họp phát biểu ý kiến (nếu có);
đ) Người đứng đầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản báo cáo, giải trình về những vấn đề có liên quan;
e) Thường trực Hội đồng nhân dân kết luận về việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật.
7. Nội dung kết luận phải xác định văn bản quy phạm pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp thì đề xuất, kiến nghị xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 15 của Nghị quyết này.
8. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản phải xem xét, thực hiện và thông báo đến Thường trực Hội đồng nhân dân. Quá thời hạn này mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản không thực hiện kiến nghị hoặc thực hiện không đáp ứng yêu cầu thì Thường trực Hội đồng nhân dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc trình Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định theo quy định tại Điều 18 của Nghị quyết này; kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm.